Chương 1: Mười hai con vịt xiêm
Ngày đầu tiên tôi ngủ trên bè cá, tôi bị đánh thức lúc bốn giờ sáng bởi một người đàn bà đứng trên bè bên cạnh, tay cầm cây sào, mặt đằng đằng sát khí, quăng vào mặt tôi một con vịt.
Con vịt xiêm. Đen trắng, mào đỏ lòm như trái ớt, nặng chừng ba ký. Nó rơi bộp xuống tấm ván bè ngay cạnh cái võng tôi nằm, đứng dậy, rũ lông, nhìn tôi như thể tôi mới là người có lỗi.
– Vịt của anh, – người đàn bà nói. – Nó qua bè tui ăn hết nửa bao cám. Lần sau tui làm thịt.
Rồi cô ta quay lưng, đi vào cái chòi trên bè bên kia, đóng cửa cái rầm.
Tôi tên Hãn, ba mươi lăm tuổi, đầu bếp. Đúng ra là từng là đầu bếp. Tôi đứng bếp nóng khách sạn ở Sài Gòn mười một năm, lên tới phó bếp, rồi khách sạn đổi chủ, cắt một nửa nhân sự, tôi nằm trong nửa bị cắt. Cùng tháng đó, chú Tư Hên của tôi ở Châu Đốc mất. Chú không vợ con, để lại cho tôi một cái bè cá trên sông Hậu, một cái xuồng máy, mười hai con vịt xiêm và một tờ di chúc viết tay ngắn tới mức tôi đọc một lần là thuộc:
"Bè cá cho thằng Hãn. Nó phải ở trên bè nuôi trọn một mùa cá, từ lúc thả giống tới lúc bán. Nuôi được thì bè của nó. Bỏ ngang thì bè bán, tiền cho chùa. Người coi nó nuôi có được hay không thì tui đã nhờ rồi, nó khỏi hỏi."
Tôi hỏi luật sư làm chứng di chúc người được nhờ là ai. Luật sư cười, bảo chú tôi dặn kỹ không được nói.
Vậy là tôi về Châu Đốc. Không có việc gì khác để làm. Tôi mang theo bộ dao bếp, cái chảo gang, và một vali quần áo không có cái nào hợp với việc đứng trên bè cá giữa sông.
Bè của chú Tư neo ở khúc sông Hậu gần chợ Châu Đốc, giữa một dãy chừng ba chục cái bè nổi, mỗi cái như một căn nhà gỗ đặt trên mấy chục cái thùng phuy, bên dưới là lồng lưới nuôi cá. Bè chú tôi nuôi cá lóc. Lứa giống chú thả xuống lồng một tuần trước khi chú nhập viện, như thể chú tính trước cho tôi một mùa vừa khít. Bè bên cạnh, cách chừng hai mét nước, cũng nuôi cá lóc. Chủ bè bên đó là người vừa ném vịt vào mặt tôi.
Út Lẫy. Ba mươi hai tuổi. Cả khúc sông gọi cô là Út Lẫy, có người gọi lén là Út Lóc, vì cô dữ như cá lóc, đụng vô là cắn. Ba cô mất năm cô hai mươi, cô ở một mình trên bè, nuôi cá mười hai năm, chưa bỏ mùa nào. Đàn ông trên sông không ai dám tán cô, vì đã có một người thử, bị cô đẩy xuống sông giữa tháng nước lớn.
Đó là những gì bà bán cà phê trên xuồng kể cho tôi, trong lúc chèo xuồng vòng quanh bè tôi, rót cho tôi ly cà phê đá mười nghìn, và nói với tôi bằng cái giọng như người ta chia buồn.
– Út Lẫy muốn mua cái bè này lâu rồi con, – bà nói. – Bè ông Tư neo chỗ nước chảy đều nhất khúc sông, cá lớn mau. Ông Tư không chịu bán. Giờ ông mất, nó chờ con bỏ cuộc.
– Sao bà biết con sẽ bỏ cuộc?
Bà nhìn tôi từ đầu tới chân: áo sơ mi, quần tây, đôi dép kẹp mua ở bến xe.
– Tại con là người Sài Gòn, – bà nói, rồi chèo đi.
Tuần đầu tiên là địa ngục. Tôi không biết cho cá ăn bao nhiêu. Tôi không biết khi nào thì nước xấu. Tôi không biết vì sao một sáng cá lóc nổi đầu lên đớp khí, há miệng như kêu cứu. Tôi gọi điện cho kỹ sư thủy sản của công ty bán thức ăn, anh ta nói một tràng về ô xy hòa tan, tôi nghe được ba chữ.
Còn mười hai con vịt xiêm thì sống như mười hai ông vua. Chú Tư nuôi chúng trên bè để ăn cá chết, ăn rong, ăn cám rơi. Chúng ngủ trên mái chòi, ỉa trên ván bè, và mỗi sáng sớm, khi tôi còn đang ngủ, chúng lội qua hai mét nước, trèo lên bè của Út Lẫy, xông thẳng vào bao cám.
Con đầu đàn là con vịt đực to nhất, mào đỏ nhất, mặt kênh kiệu nhất. Chú Tư đặt tên nó là Thủ Trưởng. Nó đi đâu, mười một con kia đi đó. Nó kêu, cả đàn kêu. Kêu không ra tiếng vịt, mà khè khè như cái ống bễ bị thủng.
Út Lẫy chăng lưới quanh bè cô. Thủ Trưởng bay qua lưới. Cô rào thêm một lớp lưới cao hơn. Thủ Trưởng lội vòng ra phía sau, chui qua chỗ lưới hở. Cô đặt cái bẫy bằng thau nhôm. Thủ Trưởng giẫm lên thau, kêu một tiếng, cả đàn bỏ chạy, sáng hôm sau quay lại đông đủ.
Sáng thứ tám, cô lại ném một con vịt qua bè tôi. Rồi con thứ hai. Rồi con thứ ba. Tôi đứng dậy khỏi võng, đỡ được con thứ tư.
– Chị ơi, – tôi nói. – Tôi xin lỗi. Tôi sẽ nhốt tụi nó lại.
– Anh nhốt bằng cái gì? – cô hỏi. – Ông Tư nhốt mấy năm trời không được.
Tôi đứng ôm con vịt, không biết trả lời thế nào. Cô nhìn tôi, nhìn cái bếp than tôi để trên ván bè, nhìn cái chảo gang và bộ dao tôi bày trên cái kệ ông Tư đóng.
– Anh biết làm bếp? – cô hỏi.
– Biết.
– Biết nấu cá lóc không?
Tôi biết nấu cá lóc theo mười hai cách. Kho tộ, nướng trui, hấp bầu, canh chua, chiên xù, xào sả ớt, cháo, lẩu mắm, nướng muối ớt, kho tiêu, áp chảo sốt chanh dây, và một món Pháp có kem chua tôi học được ở khách sạn. Tôi nói hết. Cô nghe hết, mặt không biến sắc.
– Mười hai cách, – cô nói. – Mà cá của anh sắp chết hết rồi kìa.
Tôi quay lại nhìn lồng cá. Mấy chục cái đầu cá lóc đen sì đang ngoi lên mặt nước, há miệng đớp đớp.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình