Chương 3: Đồng Láng Biển
Mười chín ngày sau, có người chèo xuồng tới lều tui lúc nửa đêm.
Là ông Ba Khoát.
Ông đứng dưới xuồng, đèn pin rọi vô mặt tui, cái mặt ông xám như tro bếp. Ông nói vịt ông bên Láng Biển chết từ chiều qua. Sáng chết hai chục, chiều chết hai trăm, tối nay chết hơn năm trăm. Đầu sưng, mắt chảy nước, phân xanh. Ông chạy lên trạm thú y, người ta nói hết thuốc, đợi tỉnh gửi xuống. Ông nghe nói nhà tui có chích, ông tới hỏi coi còn dư thuốc không, bao nhiêu tiền ông cũng mua.
Tui đứng trên bờ, nhìn ông. Cái người tháng trước đứng dưới ruộng cười vô mặt tui.
Tui định nói hết rồi, về đi. Thằng Cảnh đã đứng sau lưng tui từ hồi nào.
– Bác Ba. – Nó nói. – Vịt chết bác để đâu?
Ông Ba Khoát ngó nó, không hiểu.
– Thì… liệng xuống kinh. Chớ để đâu. Mấy trăm con.
Thằng Cảnh quay qua nhìn tui. Trong ánh đèn pin, mắt nó sáng rực, mà hổng phải sáng vì giận. Nó nhìn tui như người ta nhìn thấy cái điều mình đã đi tìm suốt mấy chục năm.
– Ba. – Nó nói. – Con kinh đó chảy về đây. Con kinh Láng Biển chảy ra mương này.
Tui đứng đó, lạnh từ gót chân lên. Tui nhớ lại cái chuyện nằm mơ của nó. Bầy vịt ông Ba Khoát chết sạch, rồi bầy mình cũng chết. Tui đã nghĩ là tại ăn chung đồng. Mà mình đâu có ăn chung đồng. Mình ở cách đó ba cây số. Chỉ có nước. Nước kinh Láng Biển chảy về đây, mỗi ngày con vịt nào của tui cũng lội dưới mương uống nước.
Thằng Cảnh đã đi tới mũi ghe, lấy cái cuốc với cái bao vôi bột má nó mua về để quét chân lều.
– Bác Ba. – Nó nói. – Bác về kêu người vớt hết vịt chết dưới kinh lên, đào hố chôn, rắc vôi. Con vịt nào còn khỏe thì tách riêng ra, lùa lên đồng cao. Sáng mai con với ba con lên trạm thú y gặp anh Đực, hỏi tỉnh có gửi thuốc xuống chưa. Bác đừng liệng con nào xuống kinh nữa hết.
Ông Ba Khoát đứng dưới xuồng, nhìn thằng nhỏ mười sáu tuổi chỉ biểu ông như ông là đứa con nít. Rồi ông nhìn tui. Tui hổng nói gì. Tui chỉ leo xuống xuồng của ông, chìa tay ra cho thằng Cảnh đưa cái cuốc.
Đêm đó, tui, thằng Cảnh, ông Ba Khoát với hai thằng con ông, năm người với ba cây đèn măng sông, lội dưới kinh Láng Biển vớt vịt chết tới sáng. Vịt chết nổi lềnh bềnh như bông súng trắng, cái mùi thì tui hổng muốn nhớ. Đào hai cái hố trên gò, mỗi hố sâu ngang ngực. Rắc vôi. Lấp đất.
Gần sáng, thằng Cảnh ngồi bệt trên bờ kinh, người ướt sũng, run cầm cập. Tui cởi cái áo khoác quấn cho nó. Nó ngó xuống mặt kinh đục ngầu, nói nhỏ, hổng phải nói với tui mà như nói với ai đó.
– Ba mươi sáu năm. Hóa ra là cái kinh này.
Tui nghe mà không hiểu. Tui cũng không hỏi.
Sáng ra, tui chống ghe về lều. Dưới mương nhà ông Sáu Lực, chỗ bầy vịt tui ngày nào cũng lội, đã có ba con vịt chết trôi về, mắc vô đám lục bình, bụng trương phình. Hổng phải vịt của tui. Tui đứng trên mũi ghe nhìn ba cái xác trắng đó mà tay run, cây sào tre lắc lư. Nếu hổng có mấy mũi chích hai tuần trước, thì bữa nay đã tới lượt bầy của tui.
Tui lùa cả bầy lên đồng cao, cột lưới quây lại, hổng cho con nào xuống mương. Thằng Cảnh với má nó gánh nước giếng khoan nhà ông Sáu Lực đổ vô mấy cái thau cho vịt uống, gánh tới chiều, vai đứa nào cũng đỏ lừ.
Tỉnh gửi thuốc xuống trạm vào trưa hôm đó. Anh Đực theo xuồng ông Ba Khoát vô Láng Biển, chích cho mấy trăm con còn khỏe. Hai ngàn con, ông Ba Khoát còn giữ được hơn bảy trăm. Bầy vịt nhà tui, một ngàn ba trăm con, không mất con nào.
Cuối mùa, tui bán vịt ở chợ Mỹ An, trả đủ tiền bà Tám Nhãn, còn dư đủ sắm cho má nó đôi bông tai, cho thằng Cảnh một chiếc xe đạp cũ. Ông Ba Khoát thì lỗ. Ông tới lều tui một buổi chiều, đem theo một can rượu đế với con khô cá sặc, ngồi uống với tui tới tối, không nói câu nào về đồng Láng Biển. Ông kể chuyện hồi nhỏ ông cũng theo ông già ông lùa vịt, kể có năm nước lên sớm, cả bầy bị cuốn trôi xuống tận Cao Lãnh, hai cha con ông lội theo vớt được có mấy chục con. Tui kể chuyện ông già tui. Hai ông già ngồi kể chuyện hai ông già khác đã mất, dưới cây đèn măng sông, muỗi kêu vo ve. Thằng Cảnh ngồi ở mũi ghe vá lưới, thỉnh thoảng ngó lên, rồi lại cúi xuống. Lúc về, ông đứng dưới xuồng, nói với thằng Cảnh: mùa tới con qua đồng bác, bác nhường.
Tui năm nay bảy mươi sáu tuổi. Thằng Cảnh năm mươi hai, làm cán bộ thú y ở xã đã hơn hai chục năm, đi tới đâu người ta cũng kêu chú Cảnh thú y. Tóc nó bạc gần hết rồi.
Có bữa đám giỗ má nó, nó uống say, ngồi ngoài hiên với tui. Nó cầm cây sào tầm vông cũ dựng ở góc nhà, miếng vải đỏ đã bạc thành màu hồng nhạt. Nó vuốt miếng vải đó, nói:
– Ba à, kiếp nào chắc con cũng làm cái nghề này hết.
Tui hỏi kiếp nào là kiếp nào. Nó cười, không trả lời.
Tui cũng không hỏi nữa. Tui chỉ biết năm 1990 nó sốt một đêm, sáng ra nó ôm tui khóc, và từ bữa đó tới giờ, mỗi lần nó cầm cây sào, nó hạ cờ xuống thấp gần mặt ruộng, phất nhẹ hai cái qua bên trái, y như ông già tui hồi xưa.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không