Chương 1: Cái kìm cộng lực
Sáng mười tháng Giêng, tôi đang ngồi phân loại vỏ lon bia ngoài sân thì cái loa đình kêu rè rè, rồi tiếng ông trưởng thôn khàn đặc vang khắp làng: lư đồng trong đình mất rồi, bà con ơi.
Tôi tên Hến, Trịnh Thị Hến, bốn mươi hai tuổi, đi đồng nát hai mươi năm. Chồng tôi là anh Mão, cũng đồng nát. Làng tôi ven sông Cầu, đất ít người đông, đàn ông đi làm xa, nhà tôi thì đi nhặt cái người ta vứt. Ai gọi vợ chồng tôi là đồng nát, tôi cũng ừ. Chẳng ăn cắp của ai.
Tôi bỏ đấy chạy ra đình. Người đã đứng kín sân. Gian hậu cung cửa mở toang. Trên cái bệ đá trước ban thờ Thành hoàng, chỗ chiếc lư đồng ba chân to như cái chum vẫn ngự, giờ chỉ còn một vệt xanh rêu tròn và một sợi xích sắt bị cắt đứt, hai đầu mắt xích há ra như mồm con cá.
Chiếc lư ấy cao gần bằng đứa trẻ lên mười, nặng hơn ba yến, thân chạm rồng, nắp có con nghê ngồi. Các cụ bảo đúc từ đời vua Thành Thái. Năm nào trước hội làng, tôi cũng là người cọ lư. Không phải vì tôi sạch sẽ gì, mà vì chẳng ai muốn làm. Cọ lư phải dùng khế chua giã với tro bếp, chà từng kẽ vảy rồng, rồi thò tay vào lòng lư mà chà. Mà trong lòng lư có bảy cái đầu đinh tán bằng đồng, lồi lên sắc như răng cưa, năm nào tay tôi cũng bị cứa ít nhất một đường.
Cụ Nhượng, cụ già nhất làng, chín mươi mốt tuổi, kể rằng năm bốn mươi bảy lính Tây bắn vào đình, một viên đạn trúng thân lư làm nứt một đường dài. Ông thợ gò làng bên được mời sang, khoan bảy lỗ, tán bảy cái đinh đồng giữ cho vết nứt khỏi toác ra. Từ ngoài nhìn vào, bảy cái mũ đinh tán xếp thành hình cái gáo như chòm sao Bắc Đẩu, các cụ coi là điềm lành. Còn bảy cái đầu tán phía trong thì chỉ có tôi biết, bằng mấy vết sẹo trên mu bàn tay.
Đến trưa, công an xuống. Đến chiều, cả làng đã có một cái tên. Là chồng tôi.
Bà Đường bán hàng nước cạnh đình khai rằng chiều hôm qua thấy anh Mão đạp xe thồ lượn quanh đình hai vòng. Anh Mão đi thu đồng nát, ngày nào chẳng lượn qua đình. Ông thủ từ khai rằng tháng trước anh Mão có hỏi giá cái lư, nửa đùa nửa thật. Anh Mão hỏi giá thật, vì có ông khách buôn đồ cổ dưới Hà Nội hỏi anh, anh hỏi lại cho biết rồi bảo ông kia là làng không bán. Và cả làng biết, trong nhà tôi có một cái kìm cộng lực dài bằng cánh tay, anh Mão dùng để cắt sắt vụn, cắt khóa xe đạp hỏng cho người ta.
Công an thu cái kìm cộng lực của nhà tôi, lập biên bản, mời anh Mão lên làm việc. Anh đi, quần áo còn dính dầu mỡ. Lúc ra ngõ, anh ngoái lại bảo tôi:
– Cơm nấu thì để phần, chiều anh về.
Chiều anh không về. Tối anh mới về, mặt xám ngoét. Họ hỏi anh từ chiều đến tối, hỏi đêm qua anh ở đâu. Đêm qua anh ở nhà, ngủ với tôi, với hai đứa con. Mà vợ làm chứng cho chồng thì ai tin.
Mấy hôm sau, làng tôi chia làm hai. Nửa làng không nói gì, nửa làng nói rất nhiều. Bà con đi qua ngõ nhà tôi thì nhổ toẹt. Thằng Tít con tôi đi học về khóc, bảo bạn gọi nó là con thằng trộm lư. Bà Đường hàng nước không bán chè cho tôi nữa, nói hết chè rồi, trong khi ấm chè to tướng còn bốc khói.
Tôi không khóc. Tôi đi thu đồng nát như thường, chỉ khác là tôi đi xa hơn, sang tận mấy làng bên kia sông, để khỏi phải gặp người làng mình. Tôi đi qua cả làng đúc đồng bên kia đê, nơi lò nào cũng đỏ lửa cả ngày, khói bốc lên đen kịt, mùi đồng nóng khét lẹt. Ở đó tôi bán lại cho mấy lò đúc những mảnh đồng vụn tôi thu được, người ta nấu lại thành chuông, thành tượng, thành lư. Lò to nhất làng ấy là lò của anh Đạt, Hà Văn Đạt, ba mươi tám tuổi, giàu nhanh nhất vùng, xây nhà ba tầng mái Thái, đi ô tô.
Hôm ấy anh Đạt đứng ở cửa lò, thấy tôi, gọi giật lại:
– Chị Hến, nghe nói anh Mão bị công an gọi à? Khổ. Làng chị cũng ác, ai lại đổ cho người nghèo.
Anh ta cân đồng cho tôi, trả hơn giá thường mười nghìn một cân. Tôi cảm ơn mà trong bụng thấy gờn gợn, không hiểu vì sao.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám