Chương 1: Chiếc xe ba gác lúc sáu giờ sáng
Sáu giờ sáng ngày giỗ đầu của bố, Hạnh Nguyên đang lau bát hương thì nghe tiếng xe ba gác lạch cạch ngoài ngõ.
Cô đứng trên chiếc ghế đẩu, tay cầm khăn ướt, nhìn qua cửa sổ phòng thờ. Chú Lẫy đi trước, áo sơ mi trắng, quần tây là thẳng nếp, tay xách một bó hương vòng. Theo sau là hai đứa con trai của chú, thằng Toản với thằng Tịch, đẩy chiếc xe ba gác vẫn dùng để chở lúa, trên thùng xe trải sẵn một tấm chăn bông đỏ.
Bửu Lân, chồng cô, đang dựng rạp ngoài sân, buông cái búa xuống.
– Chú Lẫy. Chú vô sớm rứa. Cỗ chưa nấu chú ạ.
Giọng anh vẫn giọng Huế, mười năm ở rể đất Hà Tĩnh mà chưa đổi được một chữ. Chú Lẫy đi ngang qua anh như đi ngang qua cái cột rạp.
– Hạnh Nguyên, xuống đây chú nói.
Cô bước xuống, vẫn cầm chiếc khăn.
– Họ đã họp, đã quyết. – Chú nói, giọng to cho cả ngõ nghe. – Nay giỗ đầu anh Khiêm, cúng xong thì chú rước bàn thờ ông bà nội với bàn thờ anh chị về nhà chú. Nhà chú có con trai, có cháu đích tôn. Mi là con gái, đi lấy chồng là người họ Nguyễn Phước của thằng Lân. Nhà ni mi ở thì cứ ở, chú không đuổi. Nhưng bàn thờ phải về họ. Cái ki-ốt ngoài mặt đường thì để chú cho thuê, lấy tiền lo hương khói. Rứa là phải lẽ.
Ngoài ngõ, mấy người hàng xóm đã đứng lại.
Bửu Lân bước tới, đứng sau lưng vợ. Anh không nói. Hạnh Nguyên cảm thấy bàn tay anh đặt nhẹ lên vai cô, rồi rút về.
Cô nhìn chiếc xe ba gác, nhìn tấm chăn bông đỏ trải trên thùng xe. Rồi cô nhìn bát hương sứ trắng cô vừa lau, đặt giữa bàn thờ ông bà nội. Trên thân bát hương có một đường nứt chạy chéo từ miệng xuống chân, được ai đó hàn lại bằng những mấu đồng nhỏ, bảy cái mấu, xếp đều như bảy mũi khâu.
– Chú vào uống nước đã. – Cô nói. – Giỗ bố cháu, cháu chưa muốn có ai to tiếng trong nhà.
Chuyện bắt đầu từ bốn mươi chín ngày, gần một năm trước.
Bố Hạnh Nguyên, ông Khiêm, mất vào cuối tháng Mười âm lịch, sau ba tháng nằm viện tỉnh vì ung thư gan. Mẹ cô đã mất trước đó năm năm. Cô là con một. Nhà có ba gian nhà ngói, một vườn chè xanh với mấy cây bưởi Phúc Trạch, và một cái ki-ốt hai mươi mét vuông mặt quốc lộ, cho người ta thuê bán vật liệu xây dựng, bốn triệu một tháng.
Lễ bốn mươi chín ngày xong, chú Lẫy ở lại sau cùng. Chú ngồi uống chè xanh với Bửu Lân, rồi nói nhẹ nhàng như chuyện nhà.
– Lân à. Eng là rể, eng nghe chú nói. Nhà ni không có con trai. Theo lệ làng, hương hỏa phải về chi thứ. Chú là em ruột anh Khiêm, chú lo.
Bửu Lân rót thêm nước, chậm rãi.
– Dạ, cháu hiểu lệ ngoài ni. Ngoài Huế nhà cháu, nhà không có con trai thì con gái với rể giữ giỗ cũng nhiều chú ạ. Cháu với Nguyên ở đây, cháu lo được.
– Ở Huế là ở Huế. – Chú Lẫy đặt chén xuống. – Rể là khách, Lân ạ. Khách mà đứng cúng thì ông bà nhận nhầm nhà.
Bửu Lân không cãi thêm. Tối đó anh bảo vợ: anh không giận chú, anh chỉ thương em. Cô không biết nên nói gì, nên cô đi rửa bát.
Tháng Chạp, chú Lẫy gọi họ họp ở nhà thờ họ. Cô không được mời. Bửu Lân càng không. Hôm sau ông trưởng họ, ông Diễn, bảy mươi tám tuổi, sang nhà cô, ngồi lâu, uống hai ấm chè, rồi mới nói được cái ý họ đã quyết: con gái đi lấy chồng không giữ bàn thờ, bàn thờ về chi thứ, tức là về nhà chú Lẫy, vào ngày giỗ đầu.
– Ông biết con thương bọ con. – Ông Diễn nói, không nhìn cô. – Nhưng lệ là lệ. Ông cũng khó.
Cô tiễn ông ra ngõ. Ông đi được mấy bước thì quay lại.
– Cái ki-ốt thì họ không bàn. Đó là chuyện riêng chú Lẫy nói. Con nhớ cho ông câu ni.
Qua Tết, chị chủ cửa hàng vật liệu thuê ki-ốt gọi điện cho cô, giọng ngập ngừng. Chị bảo chú Lẫy ra tận cửa hàng, nói từ tháng Giêng tiền thuê đưa cho chú, chú là người lo hương khói nhà này, có họ đã quyết. Chị không biết nghe ai. Chị không muốn mất lòng ai, chị buôn bán ở làng, sống bằng con mắt hàng xóm.
– Chị cứ chuyển vô tài khoản em như cũ. – Hạnh Nguyên nói. – Hợp đồng thuê là hợp đồng với bọ em, giờ em là người thừa kế, em gửi chị giấy tờ. Chú có hỏi, chị cứ bảo em dặn rứa.
Cô cúp máy, ngồi im rất lâu trong phòng giáo viên, trước mặt là chồng bài kiểm tra mười lăm phút của lớp mười một chưa chấm.
Cũng tháng ấy, mẹ chồng cô ở Huế gọi ra cho Bửu Lân. Cô đứng ngoài hiên phơi áo, nghe được nửa câu chuyện qua cửa sổ.
– Mạ nghe người ta nói rồi. Con ở rể ngoài đó, họ bên vợ coi con như người làm. Thôi về Huế đi con. Nhà mình cũng có bàn thờ, cũng cần người thắp hương.
– Mạ ơi. – Giọng Bửu Lân nhẹ như mọi khi. – Bọ vợ con mất rồi, vợ con có một mình. Con mà về, ai đứng sau lưng vợ con ngày giỗ. Mạ cho con ở lại mấy năm nữa. Tết con đưa vợ con về Huế ăn Tết với mạ.
Bên kia im lặng một lúc lâu. Rồi mẹ anh nói gì đó cô không nghe rõ, chỉ nghe anh cười, bảo dạ, dạ, con nhớ rồi.
Tối đó cô hỏi mạ nói gì. Anh bảo mạ dặn ở rể thì đừng để vợ khóc một mình.
Một đêm cuối tháng Giêng, Hạnh Nguyên ngồi một mình trong phòng thờ. Cô không thắp hương. Cô chỉ nhìn bát hương sứ có bảy mấu đồng, và cô nhớ lại cái buổi chiều cuối cùng ở bệnh viện, bố đã kể cho cô nghe về nó.
— Hết chương 1 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt