Chương 1: Đêm thứ nhất đến đêm thứ ba
Đêm thứ nhất, Vương Đình Khôi đếm được năm mươi tư cái bát.
Thầy đếm hai lần, đứng trong gian bếp của trường phổ thông dân tộc nội trú, đèn huỳnh quang rè rè trên đầu, hơi thở phả ra thành khói. Mười giờ đêm tháng Mười một trên đất Mù Cang Chải, nhiệt độ ngoài sân xuống sáu độ. Chị Lò Thị Lả, chị nuôi của trường, đứng bên cạnh, hai tay thọc vào túi áo bông, nhìn thầy đếm như nhìn một người đang làm chuyện vô ích.
– Năm mươi tư bát, – thầy nói. – Mỗi bát một phần cơm nguội với một miếng thịt kho. Chị xếp vào tủ, chị khoá. Chìa chị giữ.
– Em giữ, – chị Lả nói. Chị người Thái ở Văn Chấn, nói tiếng Kinh chậm và chắc. – Sáng mai thầy mở ra, thầy đếm. Kiểu gì cũng năm mươi ba.
Năm mươi tư bát cơm nguội là phần ăn khuya của học sinh lớp mười hai ôn thi. Mười một giờ học xong, các em xuống bếp lấy ăn, chị Lả dậy mở tủ. Nhưng hai tuần nay, sáng nào mở tủ ra kiểm cũng thiếu một bát. Chỉ một. Bát rỗng thì vẫn nằm đúng chỗ, sạch trơn như được tráng nước, chồng lên chồng bát rửa ở chậu.
Hai tuần nay, học sinh nội trú cũng có một câu chuyện mới. Chuyện người đàn bà áo chàm.
Khôi về trường này được ba năm, dạy Toán và kiêm quản sinh khu nội trú nam. Thầy quê Hưng Yên, học sư phạm ở Hà Nội, tình nguyện lên vùng cao vì một lời hứa với chính mình mà thầy không kể với ai.
Hồi thầy học lớp ba ở một xã bãi ven sông Hồng, năm lũ to, nhà thầy mất trắng vụ lúa. Cả mùa đông năm ấy thầy đi học với cái bụng rỗng. Cô giáo chủ nhiệm, cô Thoan, không hỏi gì. Sáng nào cô cũng để trong ngăn bàn của thầy một nắm cơm muối vừng gói lá chuối, để từ trước khi thầy tới lớp, như thể cái nắm cơm tự mọc ra ở đó. Mãi tới cuối năm thầy mới biết đó là cô. Thầy không bao giờ cảm ơn được, vì năm sau cô chuyển đi, rồi mất liên lạc. Lời hứa của thầy đơn giản thôi: chỗ nào có đứa trẻ đi học với cái bụng rỗng thì thầy tới đó.
Ba năm ở đây, thầy đã quen với sương, với rét, với những đêm mất điện ngồi chấm bài bên bếp củi. Thầy đã quen với cả những chuyện ma mà học trò kể nhau nghe lúc mất điện: con ma rừng, con ma suối, cái bóng đi trên sống ruộng bậc thang mùa nước đổ. Thầy nghe, thầy không cười, thầy không tin.
Chị Lả thì khác. Chị không nói tin hay không tin. Chị chỉ nói, ở bản chị, người già dặn thấy đồ ăn mất mà không thấy người lấy thì đừng làm ầm, vì người đói thì đáng thương hơn đáng giận, dù là người sống hay không phải người sống. Chị nói vậy rồi vẫn khoá tủ, vẫn giữ chìa, vẫn sáng nào cũng đếm.
Nhưng chuyện người đàn bà áo chàm thì không phải một đứa kể. Mười mấy đứa kể. Đứa thì thấy từ cửa sổ phòng nội trú lúc nửa đêm đi vệ sinh: một bóng người mặc áo chàm, chân quấn xà cạp, đi chậm trong sương, từ phía bếp về phía dãy nhà gỗ cũ cuối trường. Đứa thì nghe có tiếng hát ru bằng tiếng Mông vọng ra từ dãy nhà gỗ, giọng đàn bà, rất nhỏ. Dãy nhà gỗ ấy bỏ hoang từ năm trường xây khu bê tông mới, mái ngói âm dương đã sụt một góc, cửa đóng đinh chéo.
Sáng hôm sau, Khôi mở tủ bếp. Năm mươi ba bát.
Đêm thứ hai, thầy làm thêm một việc. Thầy rắc một lớp tro bếp mỏng trước cửa tủ. Sáng ra, lớp tro không có dấu chân nào. Năm mươi ba bát.
Đêm thứ ba, thầy ngủ lại trong bếp, kê cái ghế băng sát bếp lò, đắp cái chăn bông của chị Lả cho mượn. Thầy thức tới ba giờ sáng, nghe tiếng gió lùa qua mái tôn, tiếng chó sủa xa xa dưới bản. Ba giờ mười, thầy chợp mắt. Bốn giờ, thầy giật mình dậy, mở tủ. Năm mươi tư.
Thầy thở ra. Thầy nghĩ thế là xong, có người canh thì không ai dám lấy. Thầy nằm xuống lại, kéo chăn lên tận cằm, định chợp mắt thêm một chút cho tới giờ chị Lả xuống.
Năm giờ, chị Lả xuống nấu cơm sáng, mở tủ lấy bát. Chị gọi thầy.
Năm mươi ba.
— Hết chương 1 —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị