Chương 2: Bốn đứa con
Thằng Long về trước, từ Sài Gòn, chạy xe suốt đêm. Năm mươi tám tuổi, làm chủ một xưởng cơ khí, áo sơ mi nhăn nhúm, mặt xám ngắt. Nó nhảy xuống xe, chạy vô rạp, tới trước quan tài thì quỳ sụp xuống, khóc rống lên một tiếng.
Rồi nó ngẩng lên, thấy má nó đang ngồi trên ghế mây, cầm chén chè.
Tui đang thổi bài nhạc tiễn, tui nghe rõ cái tiếng câm của thằng Long. Nó há miệng ra mà không có chữ nào. Rồi nó đứng dậy, mặt đỏ tới mang tai.
– Má! Má làm cái trò chi rứa má?
– Đám của má. – Bà Chín nói. – Con về rồi thì đi chít khăn đi.
Trưa, thằng Lân về, từ Buôn Ma Thuột. Chiều, con Phụng về, từ Đà Nẵng, đi xe khách, ôm theo đứa cháu ngoại nhỏ. Tối, thằng Quy về sau cùng, từ Bảo Lộc, chạy xe máy bốn chục cây số, ướt mem vì mưa chiều. Đứa nào về cũng y như thằng Long: chạy vô, quỳ, khóc, ngẩng lên, câm, rồi nổi giận. Thằng Lân đá văng cái ghế nhựa. Con Phụng ngồi bệt xuống sân khóc nức nở, khóc vì giận hay vì mừng thì tui không phân biệt được. Thằng Quy đứng nhìn má nó một hồi lâu, rồi phá ra cười, cười tới chảy nước mắt.
Bà Chín ngồi yên trên ghế mây, chờ đứa nào nổi giận xong thì nói đúng một câu:
– Đám của má, má chủ. Ba ngày như đám thiệt. Đứa nào về trước là má không nhận làm con.
Không đứa nào về. Tui không biết vì sợ, vì thương, hay vì tò mò. Mà không đứa nào về.
Tui thổi kèn đám ma ba mươi bốn năm, tui biết một cái đám vận hành ra sao. Phải có người đứng đón khách, có người ghi sổ phúng điếu, có người lo bếp, có người lo trà nước, có người thức canh đêm. Ba ngày đó, bà Chín không làm việc chi hết. Bà ngồi ghế mây, ăn chè, nghe kèn. Mọi việc dồn lên đầu bốn đứa con.
Mà khách tới thật. Cả xóm tới. Người Kinh tới, người Cơ Ho ở buôn bên kia đồi cũng tới, ôm theo bó chè, gói cà phê. Có người không biết chuyện, tới khóc thật, thấy bà ngồi đó thì hoảng hồn. Có người biết chuyện, tới đặt phong bì, cười, bắt tay bà, nói chúc bà sống lâu thêm hai chục năm nữa mà làm đám lần hai. Bà nhận hết, nói cám ơn.
Tui ngồi trên cái chiếu của ban kèn ở góc rạp, vừa thổi vừa coi bốn đứa con bà Chín.
Ngày đầu, tụi nó không nói với nhau câu nào. Thằng Long đứng đón khách ở cổng, thằng Lân ngồi ghi sổ ở bàn trong, hai đứa cách nhau mười mét mà như cách nhau một con sông. Con Phụng xuống bếp nấu, thằng Quy chẻ củi, xách nước. Ăn cơm thì mỗi đứa bưng chén ra một góc. Tới tối, cái bàn ghi sổ hết giấy, thằng Lân cần thêm, đứng dậy, đi ngang qua thằng Long, rồi đi vòng ra phía sau rạp lấy cuốn tập trong cặp của nó, chứ không hỏi anh nó một câu.
Tối ngày đầu, đứa cháu ngoại của con Phụng, thằng nhỏ sáu tuổi tên Bin, leo lên ngồi trong lòng bà Chín. Nó mân mê cái khăn tang trắng trên đầu bà, hỏi to, cả rạp nghe:
– Bà ngoại chết chưa?
Con Phụng ở dưới bếp chạy lên định kéo con đi. Bà Chín xua tay.
– Chưa. – Bà nói.
– Chưa chết sao bà đội cái khăn này?
– Bà đội cho người khác.
– Người nào?
Bà Chín không trả lời. Bà vuốt tóc thằng nhỏ, nhìn ra cái góc sân tối om giáp rẫy, chỗ cây cà phê già. Thằng Bin hỏi thêm hai lần, bà vẫn không nói, rồi nó chán, tuột xuống, chạy tới chỗ ban kèn của tui, đòi thổi thử. Tui đưa nó cây kèn nhỏ nhất. Nó phồng má thổi, kèn kêu một tiếng tè như vịt đực. Cả rạp đang im phăng phắc bỗng có người bật cười. Rồi thằng Quy cười. Rồi con Phụng. Rồi tui thấy thằng Lân ở bàn ghi sổ cũng cúi mặt xuống, vai rung rung. Chỉ có thằng Long đứng ở cổng là không cười, mà tui thấy nó quay mặt đi, lấy tay áo quẹt ngang mũi.
Bà Chín ngồi trên ghế mây, nhìn cả bốn đứa, nhìn lâu.
Ngày thứ hai, khách đông hơn. Bếp không kịp. Con Phụng chạy lên kêu thằng Quy, thằng Quy đang dở tay khiêng bàn. Con Phụng đứng giữa rạp một hồi, rồi quay sang thằng Lân, giọng run run:
– Anh Ba, anh xuống phụ em cái nồi.
Thằng Lân nhìn em gái. Tám năm, tui nghĩ, đó là câu đầu tiên con Phụng nói với nó. Nó đặt cây bút xuống, đi xuống bếp.
Chiều ngày thứ hai, trời mưa to, cái rạp bạt bị dột ngay chỗ quan tài. Thằng Long với thằng Lân cùng chạy tới một lúc, cùng đưa tay lên đỡ tấm bạt, đứng sát vai nhau. Thằng Long cao hơn, thằng Lân phải nhón chân. Hai đứa đứng đỡ tấm bạt cho tới khi thằng Quy leo lên ghế lấy dây cột lại. Xong, hai đứa buông tay, nhìn nhau một cái rất nhanh, rồi mỗi đứa quay một ngả.
Tui thổi tiếp. Bà Chín ngồi trên ghế mây, nhìn hết. Bà không nói câu nào.
Đêm thứ hai, khuya, khách về hết. Ban kèn tui nằm nghỉ trên chiếu, tui không ngủ được, ngồi dậy hút thuốc. Bốn đứa con bà Chín ngồi quanh cái bàn nhựa giữa rạp, uống trà, vì đám thì phải có người thức canh. Không đứa nào nói gì. Rồi thằng Quy, đứa út trai, hay giỡn nhất, lên tiếng:
– Má làm vầy là răng, mấy anh biết không?
– Má lẫn rồi. – Thằng Long nói.
– Má không lẫn. – Con Phụng nói. – Má nhớ hết. Má nhớ đứa cháu ngoại con tên chi, học lớp mấy, thích ăn bánh chi.
– Thì má muốn tụi mình về. – Thằng Lân nói. – Má nhắn má sắp đi, tụi mình không về đâu. Má nhắn má đi rồi, thì mình về.
Câu đó làm cả bàn im. Tui thấy thằng Long cúi mặt xuống ly trà.
– Không phải. – Một giọng nói vang lên sau lưng tụi nó.
Bà Chín đứng ở cửa buồng, khoác cái áo len cũ, tay cầm cây đèn pin. Không ai biết bà thức từ hồi nào.
– Má không làm đám cho má. – Bà nói. – Mai đưa linh. Mai tụi bây biết.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt