Chương 3: Giỗ tổ
Tối hôm ấy tôi gọi cho bố. Bố tôi sáu mươi hai tuổi, về hưu ở Hà Nội, năm nào cũng về giỗ tổ, năm nào cũng đứng hàng đầu nghe đọc đoạn cụ Khiêm mở kho. Tôi kể hết. Bố nghe không ngắt lời câu nào. Rồi bố nói, giọng rất bình tĩnh, cái bình tĩnh của người đang cố giữ cho khỏi quát:
– Cả họ này mấy đời nay ngẩng mặt với làng nhờ cụ Khiêm. Con định đưa cái ảnh ấy lên mạng cho cả thiên hạ đọc à? Họ mình còn mặt mũi nào mà về làng?
– Con chưa đưa lên đâu cả.
– Thì đừng. – Bố nói. – Chuyện tám mươi năm rồi. Người chết thì chết rồi. Người sống còn phải sống với nhau.
Tôi không cãi bố. Tôi biết bố không phải người xấu. Bố chỉ là một người lớn lên với một câu chuyện đẹp, và không muốn già đi mà không có nó.
Đêm đó tôi ngồi trước máy tính đến hai giờ sáng. Trang thông tin của họ Trịnh đã làm xong, chỉ chờ bấm nút. Ảnh gia phả, ảnh hoành phi, ảnh mười hai bài vị đời thứ bảy đến thứ chín, tấm nào cũng mặt trước, sơn son thếp vàng. Tôi nhìn tấm ảnh chụp mặt sau bài vị cụ Khiêm rất lâu. Rồi tôi không đưa nó lên. Tôi in nó ra, cỡ một bàn tay, ở tiệm photo đầu chợ sáng hôm sau.
Chiều hôm trước giỗ, tôi mang tấm ảnh lên nhà ông Hàm. Ông đang ngồi ngoài hiên, ho từng tràng dài, tiếng ho khô như xé vải. Tôi đặt tấm ảnh lên sập gụ, cạnh chén trà của ông.
– Cháu không nói với ai cả. – Tôi nói. – Cháu cũng không đưa lên mạng. Ông là trưởng tộc. Mai ông đọc gì là việc của ông.
Ông Hàm nhìn tấm ảnh, không cầm lên. Ông gật đầu một cái, rất khẽ, như người ta gật đầu với một người vừa trả lại món nợ cũ không ai đòi.
Giỗ tổ họ Trịnh năm ấy rơi vào một ngày nắng hanh, gió từ sông Đáy thổi lên mát rượi. Hơn hai trăm con cháu từ khắp nơi về, xe ô tô đỗ kín sân đình, mâm cỗ bày tràn ra cả sân nhà thờ. Các cụ ông mặc áo the, khăn xếp. Đội tế đứng sẵn hai bên. Mùi nhang trầm, mùi xôi gấc, mùi rượu nếp quyện vào nhau.
Đến phần đọc gia phả, như mọi năm, người đọc là trưởng tộc. Ông Hàm đứng dậy, tay run run cầm cuốn gia phả. Cả sân lặng đi.
Ông không mở cuốn gia phả. Ông đặt nó xuống hương án. Rồi ông đi vào gian trong cùng, tới ban thờ đời thứ bảy, thứ tám, thứ chín. Ông đưa hai tay, chậm rãi, xoay bài vị cụ Khiêm, quay mặt vào tường. Giữa ban ngày, trước mặt hai trăm con cháu.
Cả sân xôn xao. Có tiếng ai đó kêu lên. Ông Duệ đứng bật dậy, mặt cắt không còn hột máu.
Ông Hàm quay ra, đứng thẳng, nói to, giọng khàn nhưng rõ:
– Năm Ất Dậu, cụ Khiêm không mở kho.
Ông kể. Ông kể ngắn, không thêm thắt, không bào chữa. Ông đọc mười một cái tên, từng tên một, đọc to như đọc văn tế. Khi ông đọc tới cái tên Trịnh Thị Bé, lên ba, có một bà cụ ở hàng mâm thứ hai úp mặt vào hai bàn tay.
Rồi ông nhìn ra cổng.
Bà Điệp đứng ở đó, như mọi chiều, áo nâu, nón mê, chống gậy tre. Tôi đã đến báo bà từ sáng. Bà nói bà không vào. Bà chỉ đứng ở cổng như sáu mươi năm nay.
Ông Hàm đi ra. Hai trăm người dạt ra hai bên cho ông đi. Ông đi chậm, tới cổng, đứng trước mặt bà Điệp. Hai người già nhìn nhau. Cùng tám mươi tuổi. Một người sắp chết. Một người chưa bao giờ được bước qua cái cổng ấy.
Ông Hàm quỳ xuống. Ngay trên nền gạch trước cổng nhà thờ, giữa nắng, đúng chỗ tám mươi mốt năm trước một người đàn ông chi Ba đã quỳ suốt một ngày.
Bà Điệp nhìn ông rất lâu. Rồi bà đưa cây gậy tre cho tôi cầm, đưa tay ra, nắm lấy cánh tay ông, kéo ông dậy. Bà không nói gì cả. Bà bước qua cổng.
Bà đi thẳng vào gian trong cùng, đứng trước ban thờ đời thứ chín. Bài vị cụ Khiêm vẫn quay mặt vào tường. Mười một cái tên khắc nông trên mặt gỗ mộc nhìn ra phía bà.
Ai đó đưa cho bà ba nén nhang. Bà thắp, vái ba vái, cắm vào bát hương. Bà đứng nhìn mặt sau bài vị một lúc, rồi đưa ngón tay chạm vào cái tên Trịnh Văn Nhỡ, như đã chạm vào màn hình điện thoại của tôi hôm trước.
Ông Hàm mất vào tháng Hai năm sau, sớm hơn bác sĩ nói. Họ Trịnh họp, cử trưởng tộc mới. Cuộc họp kéo dài ba buổi, cãi nhau to, có chi giận bỏ về. Cuối cùng họ thống nhất: in lại gia phả, thêm chi Ba vào, thêm mười một cái tên, sửa đoạn năm Ất Dậu.
Họ không thống nhất được chuyện cái bài vị. Một nửa muốn xoay lại cho đúng lễ. Một nửa muốn để nguyên.
Tôi về làng dịp giỗ tổ năm sau, mở cửa nhà thờ lúc sáng sớm cùng ông Duệ. Bài vị cụ Khiêm vẫn quay mặt vào tường. Ông Duệ nhìn nó, đưa tay ra, rồi rụt lại. Ông thắp nhang, khấn một bài ngắn hơn mọi năm, rồi đi ra.
Ngoài cổng, chiều nào cũng không còn ai đứng nữa. Bà Điệp giờ vào thẳng trong, ngồi ở bậc thềm gian giữa, nhặt đỗ xanh, cạnh mấy chục cái bài vị sơn son thếp vàng và một tấm gỗ mộc không sơn.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe