Chương 3: Sợi dây dừa
Đằm đứng dậy, đi vô trong nhà. Một lúc sau anh ta trở ra, trên tay cầm một vật đen sì, quăn queo, dài chừng gang tay. Một khúc dây dừa cũ, hai đầu đã tưa, một đầu cắt bằng như bị dao.
– Mệ giữ cho tui. Hồi nhỏ tui không cho ai vứt.
Truật cầm khúc dây. Nó nhẹ hều, khô như một mẩu rễ cây. Anh lật qua lật lại cái đầu cắt bằng. Dây dừa đứt vì giằng xé thì tưa ra như chổi. Cái này không tưa.
– Tui không nhớ được nhiều. – Đằm ngồi xuống lại, lần này kéo ghế sát hơn. – Tui nhớ trời tối, nước kêu ầm ầm. Tui nhớ có một đứa lớn hơn ngồi trên nóc nhà, tay cầm con dao rựa nhỏ. Cái mái nhà bị kéo nghiêng, cái thúng của tui bị kéo theo, cứ chúi đầu xuống nước. Rồi đứa lớn đó chặt sợi dây. Nó đẩy cái thúng ra chỗ có ánh đèn. Xa xa có cái đèn, chắc là ghe ai.
Truật không nhớ con dao. Anh nhớ mái nhà rung, nhớ cổ tay rát, nhớ cái thúng xoay tròn. Rồi trí nhớ của anh đứt như một đoạn phim cháy. Lúc người ta vớt anh từ ngọn cây bàng lúc trời sáng, anh đã sốt mê, cổ tay sưng vù, và câu đầu tiên anh nói với mạ là: con buông em rồi. Từ đó câu ấy thành sự thật. Không ai cãi lại một đứa nhỏ mười một tuổi vừa mất em.
– Đứa lớn đó hét một câu. – Đằm nói tiếp. – Câu ni tui nhớ, vì sau tui nói hoài. Nó hét: "Gõ đi Cò! Gõ ba cái một cái, người ta nghe!"
Mệ Nghịu đặt con thoi xuống.
– Thằng ni tới nhà tui, cả tháng đầu ngồi gõ lên vách. Ba cái một cái. Tui hỏi chi, nó nói gõ cho người ta nghe. Tui tưởng nó gọi mạ nó. Rứa là tui gõ lại. Tui gõ lại thì nó nín.
Truật ngồi yên. Ngoài bến có tiếng máy ghe ai đó nổ lạch xạch, rồi tắt. Anh nghĩ tới đêm trên mái trường, Đằm gõ lên mạn ghe cho hai đứa nhỏ không quen biết. Anh nghĩ tới ông chồng mệ Nghịu chèo ghe trong sương lúc trời chưa sáng, nghe một tiếng gõ mà tưởng ma, suýt quay đầu. Suýt.
– Anh cứ nghĩ anh giết em. – Truật nói. Lần này anh nói được trọn câu.
– Anh chặt dây. – Đằm nói. – Không chặt thì tui chìm theo cái mái nhà rồi. Tui nghĩ hoài cái đứa đó là ai. Tui tưởng tượng nó chết rồi. Tui không dám hỏi mệ. Tui sợ mệ biết tui còn nhớ một nhà khác.
Mệ Nghịu khịt mũi, lấy vạt áo lau mắt, rồi cầm con thoi lên vá tiếp như không có chuyện gì.
– Hai anh em bây ngồi đó mà nói, tui vá cho xong tấm ni, mai ghe đi biển.
Chiều đó Truật ở lại ăn cơm. Mệ kho một nồi cá bống với tiêu, nấu canh rau muống chua me. Đằm ăn ba bát, Truật ăn hai, cả hai ngồi xếp bằng trên chiếu, đầu gối chạm nhau mà không ai rụt lại. Họ không nói nhiều. Truật kể nhà cũ bây giờ đã xây lại từ năm hai không mười hai, nhưng mạ bắt giữ cánh cửa gỗ mít cũ, bào lại, lắp vô nhà mới. Đằm hỏi mạ mất vì bệnh chi. Truật nói ung thư gan, đi nhanh, không đau lâu. Đằm gật đầu, rồi im một lúc rất dài.
Ăn xong, Đằm đưa Truật ra bến. Mặt phá đã lặng, nước còn đục màu phù sa, mấy cái chòi canh đầm lộ khung tre trơ trụi. Đằm ngồi xuống mũi ghe, đưa tay sờ vết sẹo ngang chân mày, như một thói quen.
– Cái ni, mệ nói lúc vớt lên đã có rồi. Anh biết không?
Truật biết. Anh biết rõ hơn cả tên thật của em mình. Mùa hè năm chín tám, thằng Cò nghe tiếng gõ cửa, chạy giành mở then, vấp bậc thềm, đập trán vào cạnh cối đá. Máu chảy ướt cả vạt áo mạ. Mạ ôm nó chạy bộ ba cây số tới trạm xá, khâu bốn mũi. Tối đó mạ không ăn cơm, ngồi đếm đi đếm lại bốn mũi chỉ đen trên trán con. Từ đó trở đi mạ dặn: nghe gõ cửa thì đi, đừng chạy.
– Em chạy ra mở cửa cho mạ. – Truật nói. – Lần mô em cũng chạy.
Đằm bật cười, một tiếng cười ngắn, khàn, rồi quay mặt ra phía phá.
– Mạ có nhắc tui không?
– Tối mô mạ cũng ngồi canh cửa. – Truật nói. – Ai gõ cũng không mở. Chỉ mở khi nghe ba cái một cái.
Đằm đặt bát xuống.
Tối đó, khi Truật đã về chỗ nghỉ, Đằm ngồi ngoài hiên với mệ. Mệ không hỏi gì. Đằm ngồi bẻ từng đốt ngón tay cho tới khi không còn đốt nào kêu nữa.
– Con đi về bên nớ, mệ có buồn không?
– Buồn chi. – Mệ nói. – Ông nhà tui vớt mi lên từ cái nò, chớ có phải đẻ ra mi đâu mà giữ. Mi về thắp cho bà nớ một cây nhang. Bà nớ ngồi canh cửa hai mươi năm, bà nớ cũng là mạ mi.
Rồi mệ đưa tay gõ lên mặt chiếu, ba cái một cái, như hồi Đằm năm tuổi.
– Mà mi nhớ đường về đây nghe chưa.
Ba tuần sau, vào ngày giỗ mạ, Truật dậy từ bốn giờ sáng. Vợ anh nấu xôi, làm gà, bày mâm cúng trong căn nhà mái bằng bên sông Ô Lâu. Đứa con gái tám tuổi của anh cứ hỏi cha đợi ai mà cứ chạy ra cửa. Anh nói đợi chú.
Gần mười giờ, ngoài ngõ có tiếng xe máy dừng. Có tiếng chân bước lên thềm, rồi dừng lại khá lâu trước cánh cửa gỗ mít đã bào lại, còn vết mộng cũ trên khung.
Rồi tiếng gõ.
Cộc cộc cộc. Nghỉ. Cộc.
Đứa con gái Truật đứng dậy định chạy ra. Anh giữ tay con lại.
– Đợi đã. – Anh nói. – Cái cửa ni có lệ của nó.
Anh đứng lên, đi tới, đặt lòng bàn tay lên mặt gỗ còn thơm mùi dầu bóng. Phía bên kia, Đằm đứng chờ, tay cầm một giỏ cá đối phá mệ Nghịu gửi lên cúng, áo sơ mi trắng ủi thẳng nếp, tóc chải nước.
Truật kéo then. Trên ban thờ, khói nhang bay thẳng lên, không lay một sợi nào.
– Vô đi Cò. – Anh nói. – Mạ mở cửa rồi.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt