Chương 2: Bản đồ lươn chết
Bảy giờ tối, thứ Tư.
Ông nội thằng Rùm tên là Chín Mận, bảy mươi mốt tuổi, chèo ghe đò ngang ở bến sông Vàm Cỏ Đông bốn chục năm, tới khi người ta xây cây cầu thì về đặt lươn. Ông ngồi trên bộ ván ngoài hiên, rót trà vào mấy cái ly thủy tinh nhỏ, nghe Hiệu nói. Thằng Rùm ngồi chồm hổm dưới đất, vẽ bằng que lên mặt sân.
– Ba chục cái ống trúm là ba chục cái máy đo, – Hiệu nói. – Máy của Sở đặt ở một chỗ, mỗi ngày đo một lần, mà phải mang về phòng thí nghiệm. Ống trúm của Rùm đêm nào cũng nằm dưới nước, cả ba chục cái, từ đầu rạch tới cuối rạch. Lươn chết ở đâu nhiều nhất thì cái thứ làm nó chết đổ ra gần đó nhất.
Ông Chín Mận gật gù, gãi cằm.
– Lươn nó lì lắm chú. Nước dơ chút đỉnh nó không chết đâu. Nó chết là nước hết hơi thở rồi.
– Dạ. Mấy thứ nước thải nhiều chất hữu cơ, đổ xuống là vi sinh trong nước ăn hết dưỡng khí. Cá nổi đầu, lươn ngộp. Nhà máy tinh bột mì xả ra thứ nước đó. Trại heo cũng xả ra thứ nước đó. Nhưng mùi thì khác nhau.
– Mùi heo là mùi khai, – thằng Rùm nói, không ngẩng đầu. – Mùi này là mùi chua.
Hiệu nhìn nó. Thằng bé vẫn cắm cúi vẽ. Nó đã vẽ xong con rạch, ba mươi cái chấm nhỏ dọc hai bên, đánh số, rồi khoanh mấy cái chấm quanh số mười bảy.
Hiệu không có quyền giao việc cho một đứa trẻ mười hai tuổi. Anh cũng không định làm vậy. Ống trúm vẫn là ống trúm của nó, lươn vẫn là lươn của nó. Anh chỉ xin một điều: bữa nào dỡ trúm, Rùm chụp hình mỗi cái ống, con lươn sống con lươn chết, gửi qua điện thoại cho anh. Anh trả tiền mua lươn chết, giá bằng lươn sống, để nó khỏi phải đổ bỏ. Ông Chín Mận đồng ý, với một điều kiện: chú không được để thằng nhỏ thức khuya.
Lúc Hiệu đứng dậy về, anh hỏi thằng Rùm sao lại nghĩ ra chuyện khắc số lên ống trúm. Nó nhún vai, chỉ ông nội. Ông Chín Mận cười khà, kể hồi còn chèo đò ngang, ông khắc số lên từng cái mái chèo, từng tấm ván sàn, từng cái cọc buộc ghe, cái nào mục thay cái đó, khỏi phải nhớ. Thằng nhỏ theo ông ra bến từ hồi bốn tuổi, thấy ông khắc thì nó khắc theo. Mấy năm trước, có bữa mất trộm năm cái ống trúm, nó đi dọc chợ một vòng, nhận ra ống của mình nằm trong thau của một người bán lươn khác nhờ mấy con số khắc dưới đáy.
– Nó đòi lại được hông? – ông hỏi thằng cháu, giọng trêu.
– Được ba cái, – thằng Rùm nói. – Hai cái kia ổng cạo mất số rồi.
Đêm đó Hiệu cũng đặt máy. Không phải máy quan trắc của Sở, thứ cần làm thủ tục cả tuần, mà là ba cái đầu đo dưỡng khí hòa tan cầm tay anh mượn được của một nhóm giảng viên đại học đang làm đề tài ở vùng này. Mỗi cái to bằng chai nước, ghi số liệu mười phút một lần. Một cái đặt dưới cống tưới gần ống trúm mười bảy, một cái ở cửa xả nhà máy, một cái dưới trại heo. Anh buộc chúng vào cọc tre, dìm xuống nước, phủ lục bình lên trên.
Năm giờ sáng, thứ Bảy.
Tin nhắn đầu tiên của Rùm tới lúc năm giờ mười hai. Ba mươi tấm hình, đánh số đủ. Ống mười bảy: năm con lươn chết. Mười sáu, mười tám: mỗi cái hai con chết. Từ mười lăm trở lên đầu rạch: lươn sống, quẫy tưng tưng. Từ hai mươi hai trở xuống: lươn sống.
Hiệu lái xe xuống con rạch lúc sáu giờ, kéo ba cái đầu đo lên. Ở cửa xả nhà máy, đường số liệu dưỡng khí đi thẳng suốt đêm, ổn định. Dưới trại heo, đường số liệu đi xuống một chút lúc gần sáng rồi nhích lên, bình thường. Dưới cống tưới gần ống mười bảy, đường số liệu đang đi ngang thì lúc hai giờ bốn mươi sáng rơi thẳng xuống như người trượt chân, chạm gần đáy, nằm đó hơn hai tiếng, rồi mới từ từ bò lên.
Hai giờ bốn mươi sáng. Không trại heo nào xả thải lúc hai giờ bốn mươi sáng. Hộ dân nào cũng ngủ.
Nhưng nhà máy tinh bột mì thì chạy ba ca. Ca ba bắt đầu lúc mười giờ đêm, giao ca lúc sáu giờ sáng.
Mười giờ sáng, thứ Hai tuần sau.
Bốn bữa lươn chết nữa, bốn lần đường dưỡng khí rơi xuống ở cống tưới. Hai giờ ba mươi lăm. Hai giờ năm mươi. Hai giờ bốn mươi. Ba giờ năm. Hiệu in bốn tờ đồ thị, đặt cạnh bốn tấm bản đồ do thằng Rùm vẽ bằng bút bi trên giấy tập học trò, mỗi tấm khoanh tròn quanh số mười bảy.
Anh mang tất cả lên gặp trưởng phòng. Trưởng phòng xem rất lâu, rồi hỏi đúng câu Hiệu đã chờ.
– Cái cống tưới đó là của ai?
– Của ruộng ông Hai Lũ, anh. Ông Hai Lũ là cậu ruột của anh Quách Gia Bảo.
Trưởng phòng đặt tờ giấy xuống.
– Vậy là cái ống xả ngầm của nó không đổ ra rạch, nó đổ vô ruộng, rồi từ ruộng qua cống tưới ra rạch. Trạm quan trắc ở cửa xả chính thì sạch là phải rồi.
– Dạ, em nghĩ vậy. Nhưng em chưa thấy cái ống.
– Không thấy cái ống thì thằng Bảo nó nói cái cống là cống tưới, ruộng ông cậu nó bón phân hữu cơ, xả nước ruộng ra rạch. Cậu đào ruộng người ta lên tìm, không có thì cậu đền lúa.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe