Chương 1: Hồi trống thứ nhất
– Tấm đồng này bị đục lại, chú ạ.
Văn Thụy Miên nói câu ấy khi hồi trống thứ nhất vừa dứt, giữa đình làng Bến Giao, trước mặt sáu cụ trong hội đồng và hai tu sĩ áo lam của Trấn Hà Phái. Cô cầm ngọn đèn dầu soi sát vào tấm đồng to bằng cái mẹt, mặt đồng xanh rỉ, chữ khắc chi chít. Dưới ánh đèn, ở dòng thứ chín, nét chữ sâu hơn những dòng khác, và quanh mép mỗi nét có một vệt sáng mỏng, như vết đục còn mới hơn rỉ đồng.
Ông Văn Cai, chú ruột cô, trưởng hội đồng, ngồi ở ghế đầu, không nhìn tấm đồng. Ông nhìn cô.
– Đục lại từ sáu mươi năm trước, sau trận bão, – ông nói. – Chữ mòn, ông nội mày cho thợ khắc lại cho rõ. Cả làng biết.
– Khắc lại thì khắc đúng chữ cũ, – Thụy Miên nói. – Đây là khắc chữ khác lên. Chú nhìn chỗ này, dưới nét ngang còn vết nét cũ, nét móc. Chữ cũ không phải chữ "gạo".
Ngoài sân đình, gió từ cửa sông thổi vào, mang theo mùi nước lợ tanh nồng và tiếng sóng vỗ vào kè đá. Trăng rằm tháng Giêng tròn vằng vặc trên mặt sông Cửu Lam. Đêm nay, sau ba hồi trống, con giao long sẽ nổi lên ở bến.
Bà nội Thụy Miên giữ ước bốn mươi năm, cho tới khi mất vào tháng Chạp. Người giữ ước là thủy tu, phải biết đọc nước. Thủy đạo có bốn cảnh: Khai Lưu là mở được lối cho nước chảy; Dẫn Triều là gọi được con nước lên xuống sớm muộn trong khoảng một nén nhang; Định Lãng là dập được sóng; Hóa Giao, theo truyền thuyết, là thành được giao long. Bà nội ở Định Lãng. Thụy Miên mới tới Dẫn Triều. Nhưng làng không còn ai khác.
Lời ước khắc trên tấm đồng, theo bản làng giữ, rất ngắn. Giao long sông Cửu Lam không lật thuyền làng Bến Giao, không dâng nước vào ruộng làng. Làng Bến Giao mỗi năm thả xuống bến một thuyền gạo nếp. Sáu mươi năm một lần, hai bên gặp mặt ký lại.
Ba năm nay, làng mất bốn chiếc thuyền. Cả bốn chiếc đều mất ở vực Sâu, khúc sông cong phía trên bến, chỗ nước xoáy, cá chép, cá lăng, cá chiên nhiều nhất cả vùng. Người làng bảo giao long già rồi, trở chứng, không giữ ước nữa. Ông Văn Cai đi lên Trấn Hà Phái mời người về.
Một trong hai tu sĩ áo lam lên tiếng. Gã còn trẻ, mặt sạch, tên Khổng Hạo, ở cảnh Định Lãng, người ta bảo là kẻ giỏi nhất thế hệ mới của phái.
– Cô Văn, chữ cũ là gì cũng thế. Con yêu ấy đã lật thuyền, đã phạm ước. Trấn Hà Phái nhận lời làng là để giữ người, không phải để đọc chữ.
– Lưới trận các anh căng ngoài bãi, – Thụy Miên nói, – là để giữ người, hay để lấy giao châu?
Không ai trả lời. Ngoài kia, trên bãi cát dưới chân bến, cô đã thấy từ chiều: tám cái cọc sắt cắm thành vòng, dây đồng căng giữa các cọc, phù vàng dán kín. Lưới Khóa Long. Cô đọc trong sách của bà nội, thứ lưới ấy chỉ có một việc: giữ con vật lớn nằm yên đủ lâu để người ta mổ lấy viên ngọc trong cổ nó.
Một viên giao châu sáu trăm năm tuổi, bán ở chợ tu chân, bằng giá cả làng Bến Giao cộng lại.
– Mày còn non, – ông Văn Cai nói, giọng không gay gắt, mà mệt. – Bà mày giữ ước thì bà mày tin con giao. Bà mày mất rồi. Ba năm, bốn cái thuyền, bảy người không về. Thằng Sáu Lành nhà bên mới hai mươi tuổi. Mày nói với mẹ nó là chữ trên tấm đồng bị đục đi.
Thụy Miên không nói được với mẹ thằng Sáu Lành. Cô biết. Cô đã đứng ở bến cái hôm người ta kéo xác chiếc thuyền lên, đáy thuyền vỡ một lỗ to bằng cái nong.
Nhưng cô cũng biết bà nội. Bà ngồi trên bến mỗi chiều, nói chuyện với mặt nước như nói chuyện với một người hàng xóm. Và bà dặn cô, trước lúc mất, một câu mà lúc ấy cô không hiểu: "Đừng để chúng nó đi câu ở vực Sâu. Cái đó không ghi trong đồng đâu, nhưng tao biết."
Hồi trống thứ hai sẽ điểm sau một canh giờ.
— Hết chương 1 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn