AI Truyện

🚀 Khoa học viễn tưởng

Tết thứ nhất

Ba cái Tết ở thị trấn dưới nước · Chương 1/3 · Sáng tác: AI Truyện

📖 7 phút đọc🎧 5 phút · giọng Bảo Việt

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Năm tôi mười tuổi, ông nội dắt tôi về…
  2. 1:04Nhưng ông nội tôi thì về mỗi Tết.
  3. 2:08Ông nội đứng cạnh tôi. Ông không già hơn…
  4. 2:45Nhà ông nội nằm ở cuối con đường, sát…
  5. 3:17Ông nội tôi đi tới, ngồi xuống cạnh bà.…
  6. 3:42Tôi lắc đầu.
  7. 4:21Mỗi năm nhỏ lại một chút. – Ông Từ…
  8. 4:50Ông nội tôi nhìn cây mai rất lâu.

Chương 1: Tết thứ nhất

Năm tôi mười tuổi, ông nội dắt tôi về ăn Tết ở một thị trấn đã chìm dưới biển mười một năm.

Sáng mùng một năm đó, khu tái định cư Đất Mới còn ướt sương. Mấy dãy nhà ống bốn tầng giống hệt nhau, sơn vàng, mái xanh, đứng thẳng hàng trên một gò đất cao mà người ta đổ bằng cát hút từ dưới sông lên. Trước mỗi nhà có một chậu mai nhỏ mua ở chợ, nụ còn xanh vì Tết năm đó lạnh. Ông nội mặc bộ bà ba lụa màu nâu, đội cái khăn rằn, tay cầm một cái lồng đèn ông sao dán giấy kiếng đỏ, tự làm. Tôi mặc áo sơ mi mới, giày mới, mặt bí xị vì phải bỏ buổi đi chơi với tụi bạn để theo ông.

– Về đâu ông? – Tôi hỏi lần thứ ba.

– Về nhà. – Ông nói lần thứ ba.

Nhà là thị trấn Vàm Đước, ở mũi đất cuối cùng của xứ Mũi Sa, nước Tây Thủy. Năm hai ngàn sáu mươi sáu, sau mười năm nước biển dâng và ba con bão lớn liên tiếp, đê vỡ, cả thị trấn chìm trong một đêm. Không ai chết, vì người ta đã sơ tán từ trước, nhưng không ai về được nữa. Bốn ngàn người dời lên khu Đất Mới, cách đó sáu chục cây số về phía bắc. Tôi sinh ra ở Đất Mới năm sáu mươi bảy. Tôi chưa từng thấy Vàm Đước.

Nhưng ông nội tôi thì về mỗi Tết.

Ở tầng trệt nhà văn hóa khu Đất Mới có một căn phòng gọi là phòng Phố Nhớ. Trong phòng có mười hai cái ghế ngả lưng, mỗi cái gắn một cái mũ mềm như mũ bơi. Đội mũ vào, nhắm mắt, là về Vàm Đước. Không phải Vàm Đước thật. Vàm Đước thật giờ nằm dưới bốn mét nước. Đây là Vàm Đước dựng lại từ ký ức của chính những người dân cũ. Mỗi người hiến một phần những gì họ nhớ: con đường trước nhà, cái chợ, cây cầu, tiếng rao. Một bộ máy gom lại, ráp vào nhau, chỗ nào hai người nhớ khác nhau thì chọn cái giống nhau nhiều nhất.

Ông nội ngồi xuống cái ghế số bảy, tôi ngồi cái ghế số tám. Cô nhân viên đội mũ cho hai ông cháu, dặn tôi lần đầu có thể chóng mặt.

Tôi nhắm mắt.

Mùi đầu tiên tôi ngửi thấy là mùi bùn. Rồi mùi khói nhang. Rồi mùi bánh tét luộc. Tôi mở mắt, và tôi đang đứng trên một con đường đất đỏ chạy dọc theo một con kênh. Hai bên đường là nhà sàn mái lá xen nhà tường mái tôn, trước nhà nào cũng có cây mai vàng nở rộ. Không phải mai chậu. Mai cổ thụ, gốc to bằng bắp đùi, hoa vàng rực như ai đổ vàng lên cành. Trên kênh, ghe xuồng chen nhau, ghe chở dưa hấu, ghe chở bông vạn thọ, ghe chở bánh tét. Có tiếng chiêng múa lân đâu đó. Có tiếng con nít đốt pháo bông.

Ông nội đứng cạnh tôi. Ông không già hơn hay trẻ hơn. Vẫn là ông, vẫn bộ bà ba nâu, vẫn cái khăn rằn. Nhưng mặt ông khác. Mặt ông sáng lên như cái đèn được ai thắp.

– Về rồi. – Ông nói.

Ông dắt tôi đi dọc con đường. Ông chỉ cho tôi từng nhà. Nhà ông Năm Thợ Bạc. Nhà bà Hai bán mắm. Cái tiệm hớt tóc có cái ghế xoay bằng sắt. Cái trường tiểu học có cây bàng lớn. Người ta đi lại trên đường, chào nhau, chúc Tết. Có người nhìn thấy ông nội tôi thì dừng lại, nói "anh Bảy về ăn Tết hả", ông gật đầu cười.

– Họ có thật không ông? – Tôi hỏi nhỏ.

– Thật một nửa. – Ông nói. – Ai còn sống thì đang ngồi trên mấy cái ghế ở Đất Mới như mình. Ai mất rồi thì là người khác nhớ ra họ.

Nhà ông nội nằm ở cuối con đường, sát bến sông. Một căn nhà sàn ba gian, cột gỗ đước, mái lợp lá dừa nước, trước sân có cây mai vàng lớn nhất xóm. Trên hiên có một bà già đang ngồi lột củ kiệu.

Ông nội đứng sững ở cổng.

– Bà nội mày đó. – Ông nói. Giọng ông không ra hơi.

Bà nội tôi mất năm sáu mươi lăm, một năm trước khi Vàm Đước chìm. Tôi chỉ thấy bà trong hình. Bà ở đây nhỏ người, tóc bạc búi củ hành, mặc áo bà ba trắng, ngồi lột củ kiệu y như trong mấy tấm hình ông để trên bàn thờ. Bà ngẩng lên, thấy ông nội tôi, cười.

– Ông về rồi đó hả. Củ kiệu năm nay ngon.

Ông nội tôi đi tới, ngồi xuống cạnh bà. Ông không nói gì. Ông cầm một củ kiệu lên, lột giùm bà.

Tôi đứng ở sân, không biết làm gì. Một ông già khác từ ngoài đường đi vào. Ông già này gầy, tóc bạc phơ, râu dài, mặc áo dài the đen, tay cầm cây chổi tre. Ông nhìn tôi, nhìn ông nội tôi trên hiên.

– Con là cháu anh Bảy Sử hả. – Ông già nói. – Ông là ông Từ, giữ cái đình ở đầu chợ. Con về lần đầu?

– Dạ.

– Con có biết ông là ai không?

Tôi lắc đầu.

– Ông là người máy. – Ông Từ nói, giọng hiền. – Ông không có thật như bà con, không phải nửa thật nửa nhớ như mấy người ngoài đường. Ông là cái máy giữ cái thị trấn này. Người ta làm ông giống ông Từ giữ đình thật ngày xưa, để bà con thấy quen. Ông Từ thật mất hai chục năm rồi.

Ông Từ ngồi xuống bậc thềm, đặt cây chổi tre xuống cạnh chân.

– Có một cái luật con nên biết. – Ông nói. – Cái thị trấn này dựng từ ký ức của người sống. Chỗ nào còn ít nhất một người đang sống nhớ, thì chỗ đó còn. Khi người cuối cùng nhớ một chỗ nào đó mất đi, thì ông phải xóa chỗ đó. Người ta đặt luật đó để không ai được dựng lại người chết theo ý mình. Cũng để cái thị trấn này không thành cái nhà mồ.

– Vậy là nó nhỏ lại hả ông?

– Mỗi năm nhỏ lại một chút. – Ông Từ nói. – Năm đầu tiên nó dài bốn cây số. Giờ còn hai cây số rưỡi.

Trên hiên, ông nội tôi đã đứng dậy. Ông cầm cái lồng đèn ông sao dán giấy kiếng đỏ, đi ra sân, kiễng chân lên, treo nó vào một cành mai thấp nhất. Trên cành mai đó, tôi thấy đã có mười cái lồng đèn khác, đủ màu, cái mới cái cũ, cái giấy kiếng còn đỏ tươi, cái đã bạc thếch như giấy báo cũ.

– Năm nào ông cũng treo hả ông? – Tôi hỏi.

– Mười một năm. – Ông nói. – Năm nay là cái thứ mười một.

– Treo làm gì vậy ông?

Ông nội tôi nhìn cây mai rất lâu.

– Hồi còn ở đây, Tết nào ông cũng làm lồng đèn cho ba mày treo lên cây mai. – Ông nói. – Ba mày đi rồi, không ai treo nữa. Ông treo để cái cây biết nhà này còn người.

Lúc tháo mũ ra, trở về phòng Phố Nhớ, tôi thấy ông nội ngồi trên cái ghế số bảy, nước mắt chảy dài xuống hai bên má, mà miệng ông cười.

Ngoài cửa, cô nhân viên đang đổi tờ danh sách dán trên bảng. Tôi đứng đọc. Danh sách những người hiến ký ức của Vàm Đước còn sống: ba ngàn một trăm mười hai người. Năm ngoái là ba ngàn bốn trăm.

— Hết chương 1 —

Mục lục Ba cái Tết ở thị trấn dưới nước

  1. 1Tết thứ nhất5 phút
  2. 2Tết thứ hai6 phút đọc
  3. 3Tết thứ ba7 phút đọc

Về truyện này

Ba cái Tết ở thị trấn dưới nước là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →