Chương 3: Người phiên dịch
Mathias quay sang tôi:
– Bà ấy nói gì?
Đây là chỗ tôi nghĩ về rất nhiều lần sau này. Tôi có ba giây. Tôi có thể dịch nguyên văn. Tôi có thể nói bà ấy cần thời gian. Tôi chọn cách dễ nhất.
– Bà ấy nói anh tìm nhầm người.
Bà Trìu cúi xuống sắp lại mấy cái lược trên sạp, xếp đi xếp lại một hàng thẳng tắp không cần xếp. Mathias đứng im. Người bán rau sạp bên đã thôi rao, ngồi nhìn sang.
– Cô bảo cậu ta, – bà Trìu nói tiếp, không ngẩng lên, giọng vẫn thấp và nhanh, như người đọc kinh, – tôi có chồng, chồng tôi không biết gì hết. Con tôi sắp cưới vợ. Bảo cậu ta về nước đi, sống cho tử tế. Bảo cậu ta nhà kia nuôi cậu ta thì cậu ta là con nhà kia. Bảo cậu ta đừng nghĩ tôi bỏ cậu ta ngoài ruộng. Tôi ngồi bên kia đường, sau cái cột điện, từ ba giờ sáng tới năm giờ, chờ tới khi bà y tá ra mở cổng bế cậu ta vào. Tôi ngồi đấy. Tôi không bỏ đi đâu hết.
Tôi đứng chết lặng. Tôi phải dịch cái này thế nào? Dịch thì bà ấy vừa thừa nhận. Không dịch thì tôi vừa giấu của anh câu duy nhất anh cần nghe.
– Bà ấy nói... – tôi bắt đầu.
– Không cần. – Mathias nói.
Anh nói bằng tiếng Việt.
Bà Trìu ngẩng lên. Tôi quay sang nhìn anh. Anh đỏ mặt, cái kiểu đỏ của người Bắc Âu, lan từ cổ lên tới tận chân tóc.
– Tôi học tiếng Việt hai năm. – Anh nói, vẫn bằng tiếng Việt, chậm, từng chữ một, giọng lơ lớ nhưng rõ. – Tôi không nói với cô. Xin lỗi. Tôi muốn biết người ta nói gì khi người ta nghĩ tôi không hiểu.
Tôi nhớ lại chữ "cảm ơn" tròn vành ở quán trà chanh. Nhớ cái nhìn lâu hơn bình thường ở cổng trạm xá, khi tôi bỏ đi câu của bà cụ bán nước. Nhớ anh không hỏi tôi cụ Lạp nói gì. Anh đã hiểu hết, từ đầu.
Bà Trìu đưa tay lên che miệng.
– Tôi hiểu bà nói. – Mathias nói. – Ngồi sau cột điện. Từ ba giờ tới năm giờ. Tôi hiểu.
Anh đặt ba cái khuy xuống mặt sạp, cạnh hàng lược bà vừa xếp.
– Tôi không ở lại. – Anh nói. – Tôi không làm hỏng nhà bà. Tôi chỉ hỏi một câu. Hồi đó, bà gọi tôi là gì?
Bà Trìu không trả lời ngay. Bà cầm một cái khuy lên, ngón cái miết lên con cá, đúng cái cử chỉ của cụ Lạp hôm trước, như thể ngón tay ấy được truyền trong máu.
– Chép. – Bà nói, rất khẽ. – Thằng Chép. Ông ngoại cậu bảo cá chép thì vượt được vũ môn. Tôi khâu cái khuy ấy vào áo cho cậu là để cậu vượt.
Người bán rau sạp bên đã quay mặt đi chỗ khác. Chợ vẫn ồn, tiếng xe máy, tiếng rao bánh giò, tiếng ai đó mặc cả mớ cua đồng. Bà Trìu lấy dưới gầm sạp ra một cái lược sừng đen bóng, chưa kịp bày, sống lược khắc một con cá đuôi cong, bốn gợn vây lưng. Bà gói nó vào một tờ giấy báo, nhét vào tay Mathias, rồi đẩy tay anh ra.
– Đi đi. – Bà nói. – Đi đi con.
Chúng tôi đi.
Trên đường về Hà Nội, Mathias ngồi ghế sau taxi, gỡ tờ giấy báo, nhìn cái lược rất lâu. Rồi anh nói, bằng tiếng Anh, rằng anh xin lỗi vì đã giấu tôi. Tôi nói tôi cũng xin lỗi, vì đã dịch sai câu đầu tiên. Anh cười.
– Cô dịch sai vì cô muốn bảo vệ tôi. – Anh nói. – Bà ấy nói dối vì bà ấy muốn bảo vệ tôi. Mọi người ở đây nói dối để bảo vệ nhau.
Tôi không cãi.
Sáng hôm sau, con dâu cụ Lạp gọi cho tôi. Ông cụ đòi gặp "thằng Tây cao", cô ấy nói, đòi từ năm giờ sáng, không cho ai đi làm.
Cụ Lạp ngồi chờ ở tràng kỷ, lần này không mặc áo bông. Trên mặt bàn có một cái hộp sắt tây đựng kẹo đã tróc sơn. Cụ mở nắp, đẩy về phía Mathias. Trong hộp là chín cái khuy sừng, con cá đuôi cong, bốn gợn vây lưng, giống hệt ba cái kia.
– Mười hai cái. – Cụ nói. – Năm chín hai, con Trìu trả lại tôi chín cái, bảo bố cất đi, con không may áo cưới nữa. Tôi hỏi ba cái kia đâu, nó bảo đánh rơi. Tôi biết nó không đánh rơi. Tôi không hỏi nữa.
Cụ nhìn Mathias, nheo mắt, như người thợ nhìn một miếng sừng xem thớ.
– Cao thế này thì không giống họ nhà tôi. – Cụ nói. – Nhưng cái cằm thì giống.
Mathias không chờ tôi dịch. Anh cúi xuống, đẩy cái hộp lại phía cụ, nói bằng thứ tiếng Việt lơ lớ của anh:
– Ông giữ. Năm sau tôi về, ông cho tôi một cái.
Cụ Lạp cười, lần đầu tiên tôi thấy cụ cười, để lộ hai cái răng cửa bọc vàng.
– Năm sau tao chết rồi. – Cụ nói. – Thôi được. Mỗi năm mày về, tao để lại cho mày một cái. Hết chín cái thì mày thôi về cũng được.
Ở sân bay, anh kể tôi nghe. Hai năm trước, sau khi mẹ nuôi bị nhồi máu nhẹ, anh quyết định phải đi tìm trước khi quá muộn. Anh tìm được một bà cụ người Việt mở quán phở ở rìa thành phố Aarhus, xin học tiếng mỗi tối thứ Năm, trả công bằng việc rửa bát. Bà cụ dạy anh bằng mấy bài hát ru và giọng Bắc đặc sệt. Anh không nói với tôi vì sợ, nếu ai cũng biết anh hiểu, người ta sẽ chọn lời trước khi nói với anh.
– Tôi muốn nghe câu thật. – Anh nói. – Dù câu thật là "đi đi".
– Thì anh nghe được rồi đấy. – Tôi nói.
– Tôi nghe được hai câu. – Anh nói, và giơ hai ngón tay lên. – "Đi đi." Và "đi đi con". Chữ thứ hai là chữ quan trọng.
Anh bay về Aarhus hôm ấy, bốn ngày sau buổi chợ. Trước khi đi, anh nhờ tôi một việc: mỗi năm một lần, vào tháng Ba, ra chợ làng ấy mua một cái lược, không cần nói gì, chỉ cần mua. Anh chuyển trước cho tôi tiền mười năm.
Năm thứ nhất, tôi ra chợ vào một sáng mưa phùn. Bà Trìu nhận ra tôi. Bà không hỏi gì, chọn cho tôi một cái lược, gói giấy báo. Lúc về nhà mở ra, tôi thấy trên sống lược, con cá đuôi cong có thêm một nét dao mới, nông và vụng, như người mới học khắc: một cái bọt nước nhỏ, ngay trước miệng cá.
Tôi chụp ảnh gửi Mathias. Anh không trả lời ngay. Gần nửa đêm, tin nhắn của anh tới, viết bằng tiếng Việt:
"Cá đang thở. Cảm ơn mẹ."
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe