Chương 3: Buổi hòa giải thứ ba
Tháng Chín, người nộp đơn là cô Ngọc.
Đơn viết tay, chữ nghiêng, nét mềm, có một chỗ gạch xóa. Nội dung: căn 4B im lặng bất thường đã năm ngày. Không có tiếng báo thức lúc hai rưỡi. Không có mùi cá khô lúc nửa đêm. Không có tiếng cửa sắt lúc sáu giờ rưỡi sáng. Đề nghị tổ hòa giải kiểm tra.
Rồi ở dòng cuối, cô viết thêm, có vẻ viết vội:
“Với lại năm hôm trước, lúc chín giờ sáng, tui nghe nhà bên có tiếng đàn ông tập hát nguyên âm. A, e, i, o, u. Tập đúng bài khởi động tui dạy bé Bông. Hát dở lắm chú, lạc tông hết. Bữa đó là bữa cuối cùng tui nghe tiếng nhà bên.”
Tôi đọc tới đó thì đội mũ đi lên lầu bốn ngay.
Cửa căn 4B khóa ngoài. Tôi gọi điện cho anh Toại theo số trong đơn, không ai bắt máy. Tôi xuống hỏi ông bảo vệ, ông nói thấy anh xách ba lô đi hồi sáng thứ Hai, mặt mày bí xị. Tôi gọi lần nữa vào buổi tối. Lần này anh bắt máy.
Anh đang ở quê ngoại Bến Tre. Anh xin nghỉ phép mười ngày. Tôi hỏi có chuyện gì. Anh im rất lâu. Rồi anh kể, giọng không còn đều tăm tắp như bản tin, mà ngắt quãng, vấp váp, lần đầu tôi nghe một người nói chuyện như vậy mà không phải vì say.
Hồi tháng Hai, trước buổi hòa giải thứ nhất một tháng, có một đêm giông lớn trên vùng trời phía Nam. Một chiếc máy bay báo sắp cạn nhiên liệu, xin hạ cánh khẩn cấp. Ca đó anh trực. Anh xử lý đúng quy trình, máy bay đáp an toàn. Nhưng giữa chừng, lúc ra lệnh cho chiếc máy bay đó đổi độ cao, giọng anh vỡ ra. Anh lắp. Phi công phải hỏi lại hai lần. Bốn giây. Trong nghề của anh, bốn giây là dài.
Không ai kỷ luật anh. Nhưng từ đó anh sợ chính giọng mình. Hồi nhỏ anh nói lắp nặng, đi chữa mấy năm mới hết, tưởng hết luôn. Bác sĩ tâm lý của trung tâm khuyên anh đi học luyện thanh, tập thở, tập nói có nhịp. Anh không đi. Anh không dám ngồi trong một lớp học, há miệng hát trước người lạ.
Rồi anh nghe thấy, qua bức tường mười phân, một cô giáo dạy con nít thở bằng bụng, hát nguyên âm, ngân từng chữ cho tròn.
– Lúc đầu cháu kiện thiệt, chú. – Anh nói. – Cháu mất ngủ thiệt. Rồi tới cái lúc cô ấy nói cháu nói chuyện như cái máy. Cháu về nhà, nằm nghe cô ấy dạy con bé Bông. Cháu nghe cô ấy nói: con đừng sợ cái nốt đó, con thở cho đủ thì nó tự lên. Cháu nghe mấy câu đó còn kỹ hơn nghe bác sĩ.
Anh đặt báo thức lúc chín giờ để dậy tập theo, rồi ngủ bù buổi chiều. Cô Ngọc dời giờ dạy, anh không tập được nữa. Đó là lý do riêng anh không dám trình bày ở buổi hòa giải thứ hai.
Năm ngày trước, anh thi sát hạch định kỳ, phần giao tiếp vô tuyến trong tình huống khẩn cấp giả định. Anh rớt. Không phải vì lắp. Vì anh sợ lắp quá nên nói chậm quá. Anh xin nghỉ phép về quê ngoại để nghĩ xem có nên bỏ nghề.
Tôi cúp máy. Tôi ngồi ngoài ban công nhà mình rất lâu, nhìn xuống cái sân chung cư cũ, mấy đứa nhỏ đá banh dưới đèn đường. Rồi tôi gõ cửa căn 4A, đưa cái điện thoại cho cô Ngọc, kể lại hết.
Cô Ngọc nghe xong, không nói gì. Cô đi vô nhà, lát sau trở ra, tay cầm cái điện thoại của cô, bấm số anh Toại mà tôi đọc cho.
Tôi đứng ở hành lang. Tôi biết đứng nghe là không đúng phép, nhưng tôi là tổ trưởng tổ hòa giải, mà đây là vụ việc còn treo.
– Anh Toại hả. Ngọc đây, 4A. – Cô nói, giọng Huế bình thường mà nhỏ hơn mọi bữa. – Anh tập nguyên âm sai rồi. Anh hát bằng cổ họng, anh phải hát bằng bụng. Rứa nên anh mới lạc tông.
Đầu dây bên kia im lặng một lúc lâu.
– Bài kiểm tra lại của anh khi nào?
– Ba tuần nữa.
– Thì anh về đi. Từ mai, chín giờ sáng, tui dạy anh. Không phải qua tường. Dạy ở phòng sinh hoạt tổ dân phố dưới trệt, có chú Tư ngồi làm chứng, cho đàng hoàng.
– Tôi trả học phí.
– Anh khỏi trả. Anh trả cái rèm cách âm một triệu tám cho tui là được.
Buổi hòa giải thứ ba, tôi ghi vô cuốn sổ xanh như vầy: hai bên tự thỏa thuận được, tổ hòa giải chỉ cung cấp địa điểm, ghế nhựa, bình trà và một dĩa bánh in.
Ba tuần sau đó, sáng nào cũng vậy, chín giờ, dưới phòng sinh hoạt tổ dân phố vang lên tiếng một người đàn ông hát a, e, i, o, u, dở thấy thương, và tiếng một cô giáo người Huế la: thở bằng bụng, bụng chứ không phải ngực, anh Toại, ngực anh là cái máy hả. Bé Bông tới học ké, ngồi cười ngặt nghẽo. Mấy bà trong dãy đi chợ về ghé ngang, đứng ngoài cửa sổ nghe, bàn tán.
Anh Toại thi lại đậu. Tôi biết vì hôm đó anh mua cho tổ dân phố hai thùng nước ngọt.
Tháng Mười Hai, tôi nhận được một tờ đơn nữa từ căn 4B. Lần này là đơn xin phép tổ dân phố cho đục một cánh cửa thông qua bức tường mười phân giữa hai căn hộ, kèm chữ ký đồng ý của chủ hộ căn 4A, chữ nghiêng, nét mềm.
Tôi nói với anh đục tường chung cư phải xin phép ban quản lý với phường, tổ dân phố không có thẩm quyền. Anh nói anh biết. Anh chỉ muốn tổ trưởng tổ hòa giải là người đầu tiên đọc.
Tôi kẹp tờ đơn vô cuốn sổ xanh. Vụ việc căn 4A và căn 4B, tôi ghi: đã giải quyết xong. Rồi tôi gạch chữ xong, viết lại: đã giải quyết, chưa xong. Còn đám cưới.
— Hết —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình