Chương 2: Người đàn bà trên chiếc ghe
Sáng hôm sau, nước rút được hai tấc. Ngoài đường, thuyền chở khách du lịch chạy ngược xuôi, khách nước ngoài ngồi trên thuyền giơ máy chụp phố cổ ngập. Huy lội ra đầu phố mua bánh mì, hỏi mấy nhà bên cạnh có ai đi ghe đêm qua không.
– Đêm mô cũng có ghe. – Ông Tám bán đèn lồng ở căn kế bên nói, tay đang vắt khô mấy cái lồng đèn vải. – Ghe chở hàng cứu trợ, ghe dân đi coi nhà. Mà có một chiếc. – Ông ngừng lại. – Mùa lũ năm mô cũng có một chiếc, chèo chậm, có cái đèn bão treo đầu mũi. Chừng hai giờ khuya là tới, đậu trước nhà mi một chặp rồi đi. Tau thấy từ hồi tau còn trẻ. Tau tưởng nhà mi biết.
– Ai chèo?
– Có một thằng trai trẻ chèo. Ngồi giữa ghe là một bà già. – Ông Tám nhún vai. – Tau không hỏi. Mùa lũ người ta đi đâu thì đi, hỏi chi.
Huy đứng ở bậc cửa nhà mình, nước ngang đầu gối, nhìn vào cái cột lim. Vạch nước không ghi năm vẫn ở chỗ cũ, sát trần. Lần đầu tiên anh để ý thấy nó không thẳng như những vạch khác. Những vạch kia khắc bằng dao, ngay ngắn, sâu. Vạch này nông, run, xiêu vẹo, như ai đó khắc bằng một vật nhỏ và cùn, khắc đi khắc lại nhiều lần trên cùng một đường.
Buổi trưa, lúc cả nhà ăn mì gói trên gác, Huy đứng lên bàn thờ, nhấc khung ảnh bà nội xuống lau bụi. Anh làm việc đó mỗi năm hai lần, chưa bao giờ lật mặt sau. Lần này anh lật.
Mặt sau tấm bìa cứng có một dòng chữ viết bằng bút mực, nét chữ nghiêng của ông nội: Lê Thị Mận, sinh năm Nhâm Thân. Rồi một gạch ngang. Sau gạch ngang không có gì.
Huy đứng trên ghế, cầm khung ảnh, nhìn dòng chữ dở dang ấy lâu tới mức Kiều phải hỏi anh làm gì mà đứng ngây ra. Người ta viết sau ảnh thờ thì viết đủ năm sinh năm mất. Ông nội anh là người cẩn thận, sổ sách buôn bán của ông còn giữ đến giờ, không sai một con số. Ông không quên.
Tối đó, khi Kiều đã cho Bống ngủ, Huy ngồi xuống cạnh cha bên lỗ ròng rọc.
– Ba. Năm Thìn, bà nội mất làm sao?
Ông Liêm nhìn anh. Một lúc lâu, như đang cố nhận ra người đang hỏi là ai.
– Nước lên. – Ông nói. – Nước lên tới đó.
Ông chỉ cái vạch.
Rồi ông kể. Ông kể bằng giọng của một thằng bé mười tuổi, câu cụt, chuyện nhảy cóc, có những chỗ ông dừng lại rất lâu rồi mới nói tiếp. Huy ngồi nghe, ghép lại từng mảnh.
Năm Thìn, nước lên bảy ngày. Đêm thứ năm, nước lên gần chạm sàn gác. Cả nhà dồn lên gác, ông nội, bà cố, thằng bé Liêm và mạ nó. Đêm đó trong nhà có cãi nhau. Bà cố mất một cái hộp gỗ đựng vàng, cái hộp bà cất dưới gầm giường tầng trệt, nước lên nhanh quá không kịp mang lên. Bà cố nói con dâu lấy. Bà nói con dâu là con nhà nghèo bên Duy Xuyên, lấy vàng gửi về cho mạ nó. Ông nội không nói gì. Ông nội chưa bao giờ nói gì trước mặt bà cố.
– Mạ quỳ. – Ông Liêm nói. – Mạ quỳ trên sàn gác. Bà cố nói mi đi. Đi ngay. Nước đang lên mà bà biểu mạ đi.
Gần sáng, có một chiếc ghe chở người chạy lũ đi ngang dưới cửa sổ gác. Bà cố gọi ghe lại. Mạ thằng Liêm leo ra cửa sổ, bước xuống ghe. Thằng Liêm khóc, đòi theo. Bà cố giữ nó lại.
– Mạ đứng trên ghe, cầm cái đèn bão. – Ông Liêm nói. Ông giơ tay lên, như cầm một cái quai đèn vô hình. – Mạ nói Liêm ơi đừng khóc. Nước lên tới đây lần nữa thì mạ về. Mạ chỉ xuống mặt nước, sát mạn ghe. Rồi ghe đi.
Thằng bé mười tuổi đêm đó đã nằm sấp bên lỗ ròng rọc, thò cả cánh tay xuống, lấy cái đinh khắc lên thân cột lim một vạch ngang, đúng mép nước lúc ấy. Nó khắc đi khắc lại cho sâu, cho khỏi mất, tới khi tay tê cứng vì nước lạnh. Ông nội thấy, không cấm.
Ba tháng sau, khi nước rút từ lâu, người ta tìm thấy cái hộp gỗ đựng vàng dưới lớp bùn trong cái tủ thờ ở tầng trệt. Bà cố đã tự tay cất nó vào đó trước khi nước lên, rồi quên. Bà cố không nói gì. Ông nội không nói gì. Nhưng tháng sau đó, ông nội lập bàn thờ, treo tấm ảnh mạ thằng Liêm lên, và nói với thằng bé rằng mạ nó đã chết đuối trên chiếc ghe hôm ấy, ghe lật ở khúc sông gần Cẩm Kim.
– Ba có tin không ba?
Ông Liêm nhìn xuống lỗ ròng rọc. Nước dưới đó tối đen.
– Ông nội nói mạ chết. – Ông nói. – Nước không lên tới vạch nữa. Mấy chục năm, nước không lên tới vạch. Năm chín chín cũng không tới. Mạ không về thì là mạ chết.
Huy ngồi im rất lâu. Bàn tay anh đặt trên mép lỗ ròng rọc, lạnh ngắt vì hơi nước.
Đêm đó, đài báo thượng nguồn xả lũ. Hai giờ sáng, nước lại dâng.
Huy không ngủ. Anh ngồi cạnh cha, nhìn mặt nước trong nhà lên từng đốt tay trên thân cột lim. Qua vạch năm chín lăm. Qua vạch hai nghìn lẻ bảy. Chạm vạch chín mươi chín. Kiều thức dậy, ôm Bống ngồi ở góc gác, hai mẹ con quấn chung tấm chăn. Bên ngoài, loa phường kêu khản giọng.
Nước dừng lại, cách vạch không ghi năm đúng một đốt ngón tay.
Rồi ánh đèn vàng lại hắt vào từ cửa sổ mặt tiền.
Lần này Huy không nhìn xuống lỗ ròng rọc. Anh đứng dậy, đi ra cửa sổ gác, mở toang hai cánh gỗ. Gió lạnh tạt vào cùng mưa bụi. Dưới kia, phố Nguyễn Thái Học là một con sông đen, ánh đèn đường đã tắt hết. Chỉ có một đốm sáng duy nhất, một cái đèn bão treo ở đầu mũi một chiếc ghe gỗ nhỏ, đậu ngay dưới cửa sổ nhà anh, cách chừng ba mét.
Một người đàn ông trẻ ngồi đuôi ghe, giữ mái chèo, mặc áo mưa. Giữa ghe là một bà già. Bà ngồi trên một cái ghế đẩu nhựa, quấn tấm chăn len, đầu đội nón lá, và bà đang ngửa mặt nhìn lên. Không phải nhìn Huy. Nhìn ô cửa sổ bên cạnh, ô cửa sổ phía trên lỗ ròng rọc, nơi ông Liêm vẫn hay ngồi.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe