Chương 3: Giờ Dậu ở bến Đá Kè
Lão Chột đứng bật dậy.
– Con mù này bịa chuyện! – lão quát. – Nó mù, nó nghe gì mà chẳng được. Ai làm chứng cho nó? Nó nói nó nghe, ai biết nó nghe thật hay nghe trong mơ?
Ba mươi bảy người trong miếu ngồi im. Lão nói đúng. Lời của một đứa mù nghe thấy, chống lại lời của một trưởng phường nhìn thấy. Mắt người ta tin hơn tai.
Út Lam không cãi. Cô quay về phía cụ Trùm.
– Thưa cụ. Hôm nay là mười bảy. Bây giờ là giờ Thân. Còn một canh giờ nữa thì tới giờ Dậu.
Cụ Trùm ngẩng đầu lên. Đôi mắt trắng dã của cụ như nhìn thấy cái gì đó rất xa.
– Con muốn sao?
– Con muốn cả bang ra bến Đá Kè. Không ai nói một lời. Không ai đứng gần gốc đa. Ngồi xin ăn như mọi ngày, ở chỗ mình vẫn ngồi. Còn ông Chột thì ở lại đây, với cụ.
Lão Chột cười khẩy.
– Tao ở đây thì đứa nào đi gặp lái buôn? Mày tính bắt ma à?
– Không ai đi gặp hắn cả, – Út Lam nói. – Hắn sẽ tới. Hắn mang năm chục quan, hắn sẽ đứng chờ. Không ai tới thì hắn sẽ đi tìm. Hắn biết ông ngồi chỗ nào ở bến.
Lão Chột không cười nữa.
Cụ Trùm chống gậy đứng dậy.
– Kều. Mày ở lại với lão Chột. Ba Sẹo, dì cũng ở lại. Còn lại, ra bến.
Giờ Dậu, bến Đá Kè đông như mọi chiều. Đò ngang cập bến rồi lại tách bến. Người gánh cá, người gánh rau, người đi chợ chiều về. Dưới bậc đá, rải rác dọc bờ sông, ba chục ăn mày ngồi đúng chỗ của mình, bát sành trước mặt, nón úp xuống, không ai nói câu nào.
Út Lam ngồi trên một tảng đá cách gốc đa hai chục bước, đôi phách trên đùi. Cụ Trùm ngồi cạnh cô, lưng tựa vào cột buộc thuyền.
– Con chắc không? – cụ Trùm hỏi khẽ, không quay đầu.
– Con không chắc hắn tới, – Út Lam đáp. – Con chỉ chắc nếu hắn tới thì con nhận ra.
Cụ Trùm không hỏi nữa. Một con đò ngang cập bến, mấy người khách bước lên, tiếng guốc gõ trên bậc đá. Một gánh hàng xén đi qua, tiếng chuông nhỏ leng keng. Một đứa trẻ khóc. Út Lam ngồi nghe từng tiếng, đầu hơi nghiêng, như người đang lựa sạn trong một rá gạo.
Mặt trời xuống tới ngọn tre bên kia sông.
Có tiếng lạo xạo.
Như sỏi trong ống tre. Đều đều, theo nhịp bước chân. Từ phía đường cái đi xuống, tới gốc đa thì dừng lại.
Út Lam khẽ chạm vào tay cụ Trùm.
Một lúc lâu. Tiếng lạo xạo đứng yên dưới gốc đa. Rồi nó đi qua đi lại, sốt ruột. Rồi nó đi xuống bậc đá, dọc theo bờ sông, dừng ở chỗ mũi thuyền nơi chiều nào lão Chột cũng ngồi. Chỗ ấy hôm nay trống.
Một giọng đàn ông vang lên, gắt gỏng, hỏi thằng ăn mày ngồi gần đó:
– Ê. Lão Chột đâu? Lão hẹn tao giờ Dậu. Tiền tao mang tới rồi đây.
Thằng ăn mày không trả lời. Không ai trả lời. Ba chục người ngồi dọc bờ sông từ từ ngẩng đầu lên, nhìn gã lái buôn. Gã đứng giữa bến, áo the lụa, cổ đeo xâu tiền dây gai nặng trĩu, nhìn quanh, rồi mặt tái dần khi nhận ra mình đang đứng giữa một bang ăn mày đã im lặng chờ mình.
Cụ Trùm chống gậy đứng dậy.
– Bát của bang tôi, – cụ nói, giọng không lớn mà cả bến nghe thấy, – đang ở đâu?
Gã lái buôn lùi một bước, rồi quay người bỏ chạy lên đường cái, xâu tiền va vào nhau loảng xoảng. Không ai đuổi. Ăn mày không đuổi người giàu. Nhưng tối hôm đó cả chợ Đông Gia đã biết chuyện, và sáng hôm sau, không hàng nào ở chợ Đông Gia chịu bán cho gã một chén nước.
Tối ấy, lão Chột quỳ trước bàn thờ Thổ thần, khai hết. Lão lấy cái bát đêm rằm, giấu dưới gầm thuyền ở bến, định bán năm chục quan rồi bỏ lên phủ thành sống những năm cuối đời cho tử tế. Lão sáu mươi tuổi, mắt chột, gối đau, mùa đông nào cũng sợ chết rét dưới hiên chùa. Lão chọn đổ cho Út Lam vì cô mù, vì đêm rằm cô không về, vì lão nghĩ một đứa mù thì không ai tin.
Thằng Kều lặn xuống gầm thuyền, mò lên cái bát. Bát sành men lam, đáy có vết rạn gắn sơn ta, vẫn nguyên, chỉ dính một lớp rêu sông.
Cụ Trùm cầm cái bát lên, xoay trong hai bàn tay nhăn nheo, sờ vết rạn ở đáy rất lâu.
Theo lệ bang, kẻ trộm vật tổ bị đuổi khỏi chợ suốt đời. Ba mươi bảy người trong miếu chờ cụ nói câu ấy.
Cụ Trùm không nói. Cụ quay về phía Út Lam.
– Con là người bị khai. Con định đoạt đi.
Cô gái ngồi im rất lâu. Ngoài kia, trăng mười bảy đã lên, khuyết một góc.
– Thưa cụ, – cô nói. – Ông Chột sợ chết rét. Con cũng sợ. Cả bang ai mà không sợ. – Cô ngừng một chút. – Đuổi ông ấy khỏi chợ thì mùa đông này ông ấy chết thật. Con xin cụ cho ông ấy ở lại. Ở lại thì mỗi Tết, ông ấy phải bưng cái bát này ra chợ xin cơm một ngày, đi hết dãy hàng vải, dãy hàng cá, cho cả chợ nhìn mặt. Xin được bao nhiêu thì mang về chia cho người già trong bang.
Cả miếu im phắc. Lão Chột cúi gục đầu xuống nền gạch, vai run lên.
Cụ Trùm đặt cái bát lại vào hốc gạch trên bàn thờ. Rồi cụ gõ gậy ba tiếng.
– Hội đồng bang Bị Gậy đóng.
Sáng hôm sau, ở đầu dãy hàng vải chợ Đông Gia, tiếng phách lách cách lại vang lên như mọi ngày. Mấy bà bán hàng đã múc sẵn nắm cơm. Út Lam ngồi xuống chiếu, gõ một nhịp dài, rồi cất giọng hát. Hôm ấy cô hát bài gì không ai nhớ. Người ta chỉ nhớ, lần đầu tiên trong hai mươi năm, lão Chột không ngồi ở mũi thuyền bến sông, mà ngồi ở chân chiếu của cô, cầm cái nón rách hứng tiền cho cô hát.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe