Chương 3: Bậc thứ ba, chỗ của hai người
Ông Tính đi bộ lên trụ sở phường lúc bảy giờ rưỡi, mặc bộ đồ thể thao trắng, còi vẫn đeo trước ngực, vì ông không biết phải mặc gì để đi nhận một con chó không phải của mình.
Anh cán bộ trực ở bộ phận một cửa còn trẻ, đeo kính, nói năng từ tốn. Anh mở sổ, tìm. Đêm qua tổ trật tự đô thị đi ra quân dọn chó thả rông ở khu vực bãi biển, bắt được bốn con, trong đó có một con vàng, cụt đuôi, cụp một tai. Đang giữ ở khu tạm giữ phía sau.
– Chú là chủ con chó hả chú?
Ông Tính mở miệng. Ông là thầy giáo, ông không quen nói dối. Ông định nói không phải, chó của ông Mười ghe câu, ông Mười mất rồi. Nhưng ông biết nếu ông nói vậy thì con chó vô chủ, và một con chó vô chủ không ai nhận trong ba ngày thì chuyện gì xảy ra với nó, ông cũng biết.
– Phải – ông nói. – Chó của tôi.
– Dạ. Vậy chú làm giúp con mấy thủ tục. Chó thả rông nơi công cộng không có người dắt, không rọ mõm, là vi phạm, chú chịu phạt theo quy định. Chú ký cam kết lần sau dắt chó ra đường phải có dây, có rọ mõm. Với lại con chó chưa có giấy tiêm phòng dại thì trong tuần này chú phải đưa đi tiêm, nộp lại bản sao cho phường. – Anh cán bộ ngẩng lên, nhìn ông qua cặp kính. – Chú có biết nó tên gì không chú? Con ghi vô biên bản.
Ông Tính không biết. Ông Mười gọi nó là gì, chị Huệ gọi nó là con Vàng. Ông nhìn ra cửa sổ, về phía biển.
– Bậc Ba – ông nói. – Tên nó là Bậc Ba.
Anh cán bộ ghi, không hỏi thêm. Ông Tính nộp tiền phạt, ký cam kết, chữ ký nghiêng như cách ông ký sổ điểm bốn mươi năm.
Khu tạm giữ là một dãy chuồng sắt dưới mái tôn sau trụ sở. Bốn con chó, ba con sủa ầm ĩ. Con vàng nằm ở chuồng cuối, không sủa. Thấy ông, nó đứng dậy. Cái khúc đuôi cụt lúc lắc nhanh tới mức cả nửa sau người nó lắc theo.
Anh nhân viên giữ chuồng, một người đàn ông trung niên da sạm, vừa mở khóa vừa nói:
– Con này bắt ở đầu một cái hẻm trên đường Nguyễn Huệ chú ơi, lúc ba giờ sáng. Không phải ngoài bãi. Nó nằm canh trước một cái nhà, miệng còn ngậm hòn đá. Bắt nó lên xe nó không cắn ai, chỉ nhả hòn đá ra kêu ư ử. Tụi con cũng thấy tội.
Ông Tính không nói gì. Đầu hẻm trên đường Nguyễn Huệ là hẻm nhà ông.
Anh nhân viên mở chốt chuồng. Con chó chạy ra, rồi dừng lại cách ông một bước chân. Nó không nhảy lên. Nó ngồi xuống, ngước nhìn ông, chờ. Như nó đã chờ ở bậc thứ năm, rồi bậc thứ tư, cả tháng nay.
Ông Tính rút tay phải ra khỏi túi quần. Tay ông run. Năm mươi lăm năm, từ cái sân đình ở Phù Mỹ, ông chưa từng chìa tay về phía một con chó.
Ông chìa ra.
Con chó ngửi bàn tay ông rất lâu, ngửi từng ngón, như đang đọc một tờ giấy. Rồi nó liếm. Lưỡi ấm, nháp, ươn ướt, liếm một cái vào lòng bàn tay, rồi một cái nữa vào chỗ cổ tay.
Ông Tính đứng giữa khu tạm giữ chó của phường, tay chìa ra, mắt cay xè, và nghĩ đúng một câu: cái phần thưởng này, hóa ra, không tệ lắm.
Ông dắt nó về bằng sợi dây dù mượn của anh cán bộ. Ghé tiệm thú y đường Trần Hưng Đạo tiêm phòng dại, mua cái rọ mõm bằng nhựa, cái vòng cổ đỏ, một bao thức ăn hai ký. Cô bác sĩ thú y khám xong bảo con chó chừng năm tuổi, gầy nhưng không bệnh, cái chân sau khập khiễng là do gãy cũ, giờ liền rồi.
Chiều đó, ông dắt Bậc Ba ra bãi. Lúc đi ngang quán bánh căn, chị Huệ đứng dậy, há miệng nhìn, rồi bật cười, cười tới mức phải ngồi xuống.
– Trời đất ơi, thầy Tính! Thầy dắt chó!
– Chó của tôi – ông nói, mặt không đổi sắc. – Tên Bậc Ba. Có giấy tiêm.
Chị Huệ lau nước mắt vì cười, rồi lật khuôn bánh căn, gắp ra một cái bánh không trứng, không mỡ hành, thổi cho nguội, đặt xuống cái dĩa nhựa dưới đất. Bậc Ba ngửi, nhìn ông. Ông gật đầu. Nó mới ăn.
Trên cát ướt, cách mép sóng hai bước chân, có chữ. Lần này nét chữ thẳng hơn, ngay ngắn như chữ trên giấy chứng nhận:
"Đăng ký thành công. Ký chủ: Âu Văn Tính."
Rồi chữ "Ký" mờ đi. Còn lại:
"Chủ: Âu Văn Tính."
"Hệ thống Bạn Đồng Hành giải tán. Bạn đồng hành ở lại."
Một con sóng vỗ vào, xoá hết.
Đêm đó, Bậc Ba nằm trên tấm bao tải ông trải ở hiên, sát cửa. Ông nằm trong nhà, cách một cánh cửa gỗ, nghe nó thở. Thở đều, thỉnh thoảng khụt khịt, có lúc rên ư ử trong mơ như đang đuổi cái gì. Ông nằm nghe, nhớ tới câu bà nhà ông nói ở quán bánh căn: nuôi một con chó đi, cho có bạn. Ông nói vọng vào bóng tối, không biết với ai:
– Bà thắng rồi đó.
Sáng hôm sau, bốn giờ rưỡi, ông Tính mở cửa thì thấy Bậc Ba nằm ở bậc cửa, vòng cổ đỏ, mõm gác lên một hòn đá trắng. Hòn thứ mười tám.
Ông nhặt hòn đá, xếp lên bậu cửa sổ, cuối hàng. Rồi ông tháo cái còi inox khỏi cổ, treo lên cái đinh cạnh bàn thờ vợ. Hôm sau ông nhờ chị Huệ hỏi mấy ông ở xóm chài Hải Minh xem còn ai biết vót còi tre.
Năm giờ mười lăm, ông ngồi xuống bậc thềm thứ ba. Bậc Ba ngồi cạnh ông, không phải bậc năm, không phải bậc bốn. Cùng một bậc.
– Hàng một – ông nói nhỏ. – Ngồi yên đó.
Cát dưới chân không còn chữ nào. Mặt trời lên đỏ ở phía Cù Lao Xanh.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe