Chương 3: Tấm ảnh thứ mười tám
Tôi không nhớ.
Tôi ngồi trên bậc tam cấp đá ong, cạnh người chị họ mà tôi không biết mình có, và cố gắng nhớ. Không có gì cả. Không có ngọn lửa, không có tấm mùng, không có tiếng la hét. Chỉ có một căn phòng tắt đèn, ở chỗ năm năm tuổi.
Nhưng có một thứ. Một thứ tôi đã mang theo suốt ba mươi năm mà không biết nó từ đâu ra. Tôi sợ đèn flash. Hồi nhỏ, chụp ảnh nhà, cứ đèn nháy là tôi khóc thét. Lớn lên rồi tôi vẫn nhắm mắt mỗi lần ai chụp ảnh có đèn, vợ tôi trêu suốt, ảnh cưới phải chụp lại cả chục lần. Tôi cứ tưởng mình có tật.
– Bà cào mặt Thoại. – Đào nói, chỉ vào tấm ảnh. – Không phải tui.
– Tại sao?
Đào nhìn tấm ảnh rất lâu.
– Tấm này là tấm cuối cùng tui còn nguyên mặt. – Chị nói. – Mười bảy tấm kia, mỗi năm tui về, tui cào một tấm. Tui không chịu được nhìn mặt mình hồi đó. Nhưng tấm này thì bà không cho tui đụng. Bà nói tấm này bà giữ, để bà nhìn mặt con Đào. Mà trong tấm này có Thoại cầm lồng đèn.
Chị ta xoay cây kim may giữa mấy ngón tay co quắp.
– Bà sợ một ngày nào đó Thoại lật album, thấy mình cầm lồng đèn, đứng cạnh tấm mùng, đứng cạnh con Đào còn nguyên mặt. Bà sợ Thoại nhìn ra. Bà không muốn đốt tấm hình, vì đốt thì mất luôn mặt tui. Nên bà cào mặt Thoại. Bà nói với tui, ai có lỗi thì cũng không còn mặt, vậy là huề.
Tôi nhìn tấm ảnh. Hai đứa trẻ trên hiên nhà. Một đứa cười, một đứa không còn mặt. Ngọn nến trong lồng đèn ông sao đỏ rực.
Ba mươi năm. Cả họ tôi giữ chuyện này ba mươi năm. Ba má tôi chuyển lên Sài Gòn ngay năm đó. Cô Hai không bao giờ lên thăm nhà tôi. Bà nội mỗi lần tôi về quê đều ôm tôi rất chặt, rất lâu, lâu đến mức tôi khó chịu, rồi không nói gì. Tôi cứ tưởng bà thương cháu đích tôn.
Tết năm ngoái, lần cuối tôi gặp bà, mắt bà đã kéo màng, không thấy rõ nữa. Bà kêu tôi ngồi xuống bộ ván, đưa hai bàn tay khô như lá chuối khô lên sờ mặt tôi, từ trán xuống mắt, xuống mũi, xuống cằm, chậm rãi, kỹ lưỡng, như người ta lần tìm một vết nứt trên cái chén. Rồi bà hỏi một câu mà cả nhà cười rần, tưởng bà lẫn:
– Mặt mày còn nguyên hả Tí?
Tôi cũng cười. Tôi nói dạ còn nguyên bà ơi, đẹp trai nữa là khác.
– Sao chị về? – Tôi hỏi. – Sao chị ngồi cuối rạp, không vô thắp nhang?
– Vì họ không cho. – Đào nói, bình thản. – Cô Ba với chú Năm nói con Đào về thì người làng bàn ra tán vào, thằng Tí biết chuyện. Họ nói tui ngồi đâu thì ngồi, đừng lại gần thằng Tí. Tui hứa. Ba đêm rồi tui giữ lời.
– Rồi đêm nay chị nói hết.
– Đêm nay Thoại lật tới trang cuối. – Đào nói. – Tui hứa với họ là tui không nói trước. Tui đâu có hứa là không trả lời.
Chị đứng dậy, quấn lại cái khăn rằn, đeo lại găng tay. Gà bên kia sông bắt đầu gáy.
Có tiếng dép sau lưng chúng tôi. Cô Ba đứng ở đầu bậc tam cấp, tóc rối, áo tang xộc xệch, chắc đã thức dậy từ lúc tôi cầm album đi ra. Cô nhìn Đào, rồi nhìn cuốn album trên tay tôi, rồi ngồi thụp xuống bậc đá, như người bị rút hết sức.
– Má con nó bắt. – Cô Ba nói, không nhìn ai. – Má con, Thoại. Năm đó má con quỳ trước mặt bà, nói thằng Tí mới năm tuổi, nó mà biết nó làm chị nó ra vậy thì cả đời nó không ngóc đầu lên được. Má con xin bà cho nó quên. Bà thương cháu đích tôn. Bà chịu. Cô Hai thì… cô Hai thương con gái, mà cô Hai cũng thương bà. Cả nhà ngồi lại một đêm, rồi quyết vậy. Con Đào đi Sài Gòn chữa bỏng, về thì ở với cô Hai bên Tân An. Nhà mình dời lên thành phố. Ai hỏi thì nói chập điện.
– Rồi không ai hỏi con Đào muốn gì. – Đào nói, giọng không giận, chỉ mệt.
Cô Ba khóc. Cô với tay nắm lấy bàn tay đeo găng của Đào.
– Cô xin lỗi con. – Cô nói. – Ba chục năm nay cô muốn nói câu đó. Mà cô hèn.
Đào để yên tay mình trong tay cô Ba, nhưng không nắm lại.
– Mai động quan rồi. – Chị nói. – Tui đi xe đò chuyến sáu giờ về Tân An. Tui làm ở xưởng may, không ai hỏi mặt mũi tui.
Chị đi lên mấy bậc tam cấp. Tôi ngồi lại, cuốn album trên đùi, nghe tiếng dép chị lẹp xẹp trên sân gạch, đi ngang qua rạp tang, đi ngang qua quan tài bà, không dừng lại.
Tôi đứng dậy. Tôi chạy theo.
Tôi kéo chị lại ngay trước bàn thờ, trước tấm ảnh bà nội đen trắng xấu xí mà tôi đã không kịp thay. Mấy ông chú đánh bài ở góc rạp ngẩng lên. Chú Năm làm rơi cả nắm bài xuống đất. Cô Ba trong nhà trên ngồi bật dậy trên bộ ván, nhìn ra.
Tôi rút ba nén nhang, đốt lên, đặt vào bàn tay đeo găng của Đào.
– Chị thắp cho bà đi. – Tôi nói, đủ to cho cả rạp nghe. – Chị Hai Đào.
Không ai nói gì. Chỉ có tiếng kinh niệm rè rè trong cái máy hát nhỏ, tiếng gió sông thổi tấm vải trắng.
Đào đứng trước quan tài rất lâu. Rồi chị gỡ khăn, để lộ nửa gương mặt sẹo dưới ngọn đèn tuýp trắng nhợt. Chị cắm nhang vào bát hương, vái ba vái. Sau lưng tôi, tôi nghe tiếng cô Ba khóc.
Sáng hôm sau, sau khi động quan, tôi chở Đào ra bến xe bằng chiếc xe máy của chú Năm. Trước khi chị lên xe đò, tôi lấy điện thoại ra, đưa lên.
– Cho em chụp một tấm. – Tôi nói.
Đào nhìn cái điện thoại, rồi nhìn tôi.
– Thoại sợ đèn nháy mà.
– Ban ngày không cần đèn nháy. – Tôi nói.
Chị đứng cạnh tôi, ở bến xe Cái Bè, nắng sớm vàng nhạt, sau lưng là mấy chiếc xe đò sơn xanh và một xe bán bánh tét lá cẩm. Chị không quấn khăn. Tôi giơ tay chụp. Trong tấm ảnh trên màn hình, hai người lớn đứng cạnh nhau, một người nheo mắt vì nắng, một người có nửa gương mặt sẹo đỏ hồng, cả hai đều còn nguyên mặt.
Tôi in tấm ảnh ra, khổ nhỏ, kẹp vào trang cuối cùng của cuốn album bìa da nâu, ngay sau tấm ảnh rằm tháng Tám năm chín sáu. Tháng sau, Đào về thắp nhang thất tuần cho bà, ngồi lật cuốn album một lúc lâu, cây kim may vẫn trong túi áo. Chị không lấy nó ra.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe