Chương 3: Người được vẫy chào
Bà Sáu đang ngồi nhóm bếp than khi tôi đứng ở cửa, tay cầm cái kẹp tóc chuồn chuồn. Bà nhìn nó, rồi nhìn tôi, rồi thổi tiếp vào bếp than cho tới khi lửa bắt đỏ. Bà làm chậm rãi, như người biết ngày này rồi sẽ tới.
– Chị ấy đâu? – Tôi hỏi. Tôi không biết vì sao mình nói chữ chị ấy. Nó tự ra khỏi miệng.
– Trong buồng. – Bà Sáu nói. – Cô nói nhỏ thôi. Nó sợ người lạ.
Bà kéo cái ghế đẩu cho tôi ngồi cạnh bếp. Ấm nước bắt đầu reo. Bên ngoài sương đã tan, nắng Đà Lạt lúc bảy giờ sáng vàng nhạt như nước trà.
– Con bé không chết. – Bà Sáu nói. – Năm ba tuổi nó sốt, viêm não thật. Nằm viện hai tháng, bác sĩ nói giữ được mạng là may. Giữ được mạng, nhưng cái đầu nó không lớn nữa. Ba mươi lăm tuổi rồi mà nó vẫn như con nít bốn, năm tuổi. Thêm cái bệnh co giật, cứ trở trời là lên cơn.
– Bên nội cô, bà nội cô nói nhà họ Lâm không có con điên. Nói thẳng trước mặt bà Cẩm vậy đó. Ông Hưng thì đi làm xa, nhu nhược. Bà Cẩm chịu không nổi. Một đêm bà ôm con bé qua nhà tui, quỳ xuống, nhờ tui nuôi. Bà nói bà sẽ gửi tiền, bà sẽ lên thăm, nhưng dưới Sài Gòn không ai được biết.
– Rồi cái mộ dưới bụi cẩm tú cầu?
– Một cái hộp gỗ nhỏ. Trong đó có bộ đầm trắng của con bé với tờ giấy bà Cẩm viết. Tui không biết chữ nhiều, tui không đọc. Bà Cẩm chôn, khóc một đêm, rồi sáng ra mời họ hàng tới thắp nhang. Ai cũng tin. Một năm sau, bà sinh cô. Bà đặt tên cô giống hệt.
Tôi nhìn xuống cái kẹp tóc trong tay. Cánh gãy dán băng keo vàng.
– Mỗi năm bà mua hai cái. – Bà Sáu nói, như đọc được ý tôi. – Một cái cho cô dưới Sài Gòn, một cái gửi lên cho nó. Cùng một kiểu. Bà nói hai đứa phải có đồ giống nhau. Cái đó là cái cuối cùng, năm cô mười hai tuổi. Sau đó bà thôi, chắc bà sợ cô lớn rồi, cô để ý. Nhưng nó thì không chịu bỏ. Gãy cánh, nó bắt tui dán.
– Ông Kha thấy chị ấy?
– Sáng nào nó cũng lên gác mái đứng chỗ cửa sổ. Từ cửa sổ đó nhìn qua được vườn nhà ông Kha. Ông Kha đi tưới hồng, nó vẫy, ông vẫy lại. Ba chục năm nay, sáng nào cũng vậy. Ông già biết tên nó là Nghi. Ông lẫn rồi, gặp cô, ông tưởng nó.
– Còn cái khoá mới?
Bà Sáu im một lúc. Lần đầu tiên tôi thấy bà né mắt.
– Hôm cậu Tùng gọi lên nói cô sắp lên dọn nhà để bán, tui biết là chuyện lộ. Mà bà Cẩm thì nằm đó không nói được, tui không hỏi được ai. Tui sợ. Tui mua cái khoá mới, khoá con bé trên đó, dặn nó đừng ra. Ban đêm tui mở cửa sau cho nó đi vệ sinh, đem cơm lên. Tui tính cô ở vài bữa rồi về.
– Bà nhốt chị ấy trên gác ba ngày.
– Tui biết. – Bà Sáu nói. Giọng vẫn đều, nhưng tay bà đặt chén trà xuống mạnh hơn cần thiết. – Tui biết là tội. Nhưng cô thử nghĩ coi. Cô bán cái nhà này, người ta đập ra xây khách sạn. Tui già rồi, tui chết thì nó đi đâu? Bà Cẩm nằm đó, cậu Tùng không biết nó có trên đời. Tui giấu nó thêm được ngày nào hay ngày đó.
Cánh cửa buồng trong khẽ mở. Một người đàn bà đứng đó, cao gần bằng tôi, tóc cắt ngắn ngang vai, mặc áo len màu cánh sen đã xù lông. Gương mặt chị là gương mặt của mẹ tôi hồi ba mươi tuổi, chỉ khác đôi mắt: mở to, trống trải, nhìn tôi như nhìn một con chim lạ đậu trên hàng rào.
Chị không nói gì. Chị nhìn bàn tay tôi, nhìn cái kẹp tóc. Rồi chị đưa tay lên tóc mình, sờ sờ chỗ bên trái, nơi không có gì.
Tôi đứng dậy, chậm, như người ta đến gần một con mèo hoang. Tôi đưa cái kẹp ra. Chị giật lấy, nhanh như trẻ con giật kẹo, rồi kẹp lên tóc, lệch về bên trái. Rồi chị cười, một cái cười không có lý do, không có đầu đuôi, và tôi nhận ra mình đã nghe tiếng cười ấy đêm qua, lẫn trong tiếng hộp nhạc.
Chiều hôm đó, tôi gọi cho anh Tùng. Tôi kể hết. Lần này anh không cúp máy, cũng không nói gì, chỉ thở. Một lúc lâu sau anh hỏi, giọng của một người vừa bị đánh vào lưng:
– Nó có giống mẹ không?
– Giống. – Tôi nói. – Giống hơn em.
Anh hỏi tôi định làm gì. Tôi nói chưa biết, nhưng chưa bán nhà. Anh không cãi.
Tôi ở lại Đà Lạt thêm hai tuần. Bà Sáu dạy tôi cách nhận ra cơn co giật sắp tới: chị sẽ đứng im, ngón tay trái gõ gõ vào đùi, mắt nhìn về một góc. Tôi học cách lên dây cót hộp nhạc cho đúng, vì chị chỉ nghe được bài ấy từ đầu, nếu dừng giữa chừng mà không lên lại, chị sẽ đi tới đi lui, mười hai bước, dừng, mười hai bước, dừng, suốt đêm. Bà Sáu gọi chị là Bé. Tôi không gọi được tên chị, vì đó cũng là tên tôi.
Một buổi tối, tôi ngồi một mình trong phòng khách nhỏ, mở lại cái bìa nâu. Dưới đáy bìa, dưới xấp ảnh, có một tờ giấy học trò gấp tư, chữ của mẹ. Không phải thư. Chỉ là một danh sách, viết từ những năm chín mươi, mực tím đã phai: những ngày mẹ lên Đà Lạt. Mỗi năm một dòng. Dòng cuối cùng là tháng Chín năm nay, hai tuần trước khi mẹ ngã.
Bên cạnh mỗi dòng, mẹ ghi một chữ. Xanh, hoặc hồng. Tôi đếm. Ba mươi chữ xanh. Năm chữ hồng, đều nằm ở mấy dòng cuối.
Tôi không biết mẹ đang ghi màu hoa cẩm tú cầu, hay ghi điều gì khác mà chỉ mẹ hiểu.
Sáng hôm tôi về Sài Gòn, tôi dậy sớm, ra đứng giữa bãi cỏ ướt sương, đúng chỗ đã đứng hôm đầu tiên. Bên kia hàng rào, ông Kha cầm bình tưới đi ra. Trên mái nhà, tấm rèm ren ở ô cửa sổ nhỏ được vén sang một bên.
Một bàn tay áp lên kính. Rồi đưa qua đưa lại, chậm rãi.
Ông Kha giơ bình tưới lên vẫy lại. Tôi đứng đó, không biết bàn tay ấy đang vẫy ông hay vẫy tôi, rồi tôi cũng giơ tay lên.
Ở góc vườn, bụi cẩm tú cầu đang ra lứa nụ cuối cùng của năm. Ông Kha nói lứa này sẽ nở hồng. Tôi định bụng tháng sau lên sẽ đứng đó xem có đúng không, và ghi vào tờ giấy của mẹ một dòng mới.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe