Chương 2: Buổi thứ năm
– Anh Kiện, anh xin xem hồ sơ người hiến. – Bác sĩ Hảo nói, mở tờ đơn trên bàn. – Anh biết là luật không cho phép, nếu người hiến không ký giấy đồng ý.
– Tôi biết.
– Vậy sao anh vẫn làm đơn?
Tôi nhìn ra cửa sổ. Trời tháng Mười ở Lạch Tre hanh khô, nắng trong vắt, gió từ biển thổi vào làm mấy lá cờ trên nóc trạm điều độ cảng bay phần phật.
– Tại vì tôi nghĩ người hiến là bố tôi. – Tôi nói.
Bác sĩ Hảo không ngạc nhiên. Có lẽ bà đã nghĩ tới từ buổi đầu tiên, từ lúc ngón tay bà lướt qua cái bớt.
– Anh kể tôi nghe về bố anh.
Tôi kể. Không nhiều. Không có nhiều để kể. Bố tôi tên Đồng Văn Thắng, làm chủ một chiếc tàu đánh cá nhỏ ở bến Lạch Tre. Năm tôi hai tuổi, tàu chìm trong một cơn bão. Bố tôi sống, nhưng tàu thì mất, và cái tàu đó được đóng bằng tiền vay. Không phải vay ngân hàng. Vay của một người mà ở cảng ai cũng biết tên và không ai dám nói ra. Ba tháng sau, bố tôi bỏ đi. Không thư từ, không lời nhắn. Mẹ tôi một mình nuôi tôi bằng nồi bánh đa cua.
– Mẹ tôi nói ông ấy hèn. – Tôi nói. – Nợ nần thì bỏ vợ con mà chạy. Tôi lớn lên tin như vậy. Tôi không có ảnh của ông. Mẹ đốt hết.
– Anh có nhớ mặt bố anh không?
– Không. Tôi hai tuổi.
– Vậy trong tiếng vọng, anh có thấy mặt người hiến không?
– Không bao giờ. Tôi chỉ thấy những gì ông ấy thấy. Không ai thấy được mặt mình.
Bác sĩ Hảo im lặng một lúc.
– Mảnh vá thói quen bám tốt nhất khi người hiến và người nhận có mã gen gần nhau. – Bà nói, chậm rãi. – Ngân hàng ký ức luôn ưu tiên tìm người hiến cùng huyết thống trước. Người nhận không được biết, nhưng hồ sơ ghép thì có ghi mức tương thích. Mức tương thích của anh là chín mươi mốt phần trăm. Người dưng trung bình là sáu mươi.
Tôi nhìn bà.
– Bà vừa nói cho tôi một điều mà luật không cho bà nói.
– Tôi chỉ nói một con số. – Bác sĩ Hảo nói. – Số thì không phải là tên.
Những tuần sau đó, tiếng vọng tới thường hơn. Tôi bắt đầu xâu chúng lại, như xâu những hạt cườm rơi vãi. Có những mảnh rất rõ, có những mảnh chỉ là màu.
Một chiếc tàu đánh cá sơn xanh nằm nghiêng trên bãi bùn sau bão, mũi tàu vỡ toác.
Một căn phòng trọ nhỏ ở đâu đó, có tiếng tàu hỏa chạy ngang ngoài cửa sổ, một chiếc giường sắt, một bàn tay đếm từng tờ tiền cũ rồi cho vào phong bì.
Cái cổng trường sơn xanh, hai cây phượng, thằng nhỏ áo trắng cặp đỏ. Người hiến đứng sau gốc bàng bên kia đường. Không đi qua.
Một người đàn bà tóc đã điểm bạc đứng sau một nồi nước dùng ở một góc chợ, vai gầy. Người hiến đứng ở đầu hẻm, nửa người khuất sau cột điện. Đứng rất lâu. Không đi vào.
Và một thứ mà tôi phải thấy tới lần thứ ba mới nhận ra. Một cái sân trường dạy nghề cơ khí, hàng ghế nhựa xanh, một chàng trai mặc áo bảo hộ màu cam đứng trên bục nhận bằng lái cần cẩu. Người hiến đứng ở hàng cuối cùng, sau lưng mấy ông bố bà mẹ khác.
Chàng trai đó là tôi. Năm hai mươi hai tuổi. Lễ tốt nghiệp trường nghề cảng. Mẹ tôi hôm đó không tới được vì bị cảm. Tôi nhớ mình đã đứng trên bục, nhìn xuống đám đông, không thấy ai của mình.
Ông ấy đứng ở hàng cuối.
Tôi ngồi trong ca bin cần cẩu của trung tâm phục hồi chức năng, nơi người ta cho tôi tập lái lại trên máy mô phỏng, tay cầm cần điều khiển, và tôi không thở được. Huấn luyện viên đập vào cửa kính hỏi tôi có sao không. Tôi nói không sao. Tôi nói tôi cần ra ngoài một chút.
Ra ngoài, tôi ngồi xuống bậc thềm, đưa tay ra sau tai trái, sờ cái bớt hình hạt đậu.
Ông ấy đã thấy tôi. Ông ấy đã đứng bên kia đường, sau gốc bàng, sau cột điện, ở hàng ghế cuối, ba mươi năm. Ông ấy không đi qua.
Chiều hôm đó tôi không về nhà. Tôi đi bộ ra bến cá cũ ở cuối cảng, nơi tàu thuyền nhỏ vẫn cập vào bán cá mỗi sáng. Bến cá giờ chỉ còn lèo tèo mấy chiếc tàu gỗ, phần lớn đã thay bằng tàu vỏ thép chạy điện. Ở đầu bến có một quán nước chè, mái tôn, mấy cái ghế nhựa, một ông già cởi trần ngồi vá lưới. Ông Thìn. Cả bến gọi ông là ông Cả Thìn. Ông làm nghề biển từ hồi bố tôi còn chưa sinh.
– Ông Cả, ông có biết người tên Thắng không ông? Đồng Văn Thắng, chủ tàu, hơn ba chục năm trước.
Ông Cả Thìn ngẩng lên. Hai con mắt ông bị gió biển làm đỏ quạch.
– Thằng Thắng tàu Thắng Lợi. – Ông nói ngay. – Mày là thằng cu con nó hả? Cái tai mày kìa.
Tôi đứng sững.
– Ông biết cái bớt?
– Cả bến này ai chả biết. – Ông Cả cười, hở mấy cái răng vàng. – Hồi mày đầy tháng, nó bế mày ra bến, đi khoe khắp lượt. Nó vạch tai mày ra cho người ta xem, bảo đấy, con tao có hạt đậu sau tai, sau này đi đâu lạc cũng nhận ra. Người ta cười nó cả tháng.
Ông kéo cái ghế nhựa cho tôi ngồi. Ông rót cho tôi một chén chè xanh đặc chát.
– Nó đi rồi thì ai cũng chửi. – Ông nói. – Tao cũng chửi. Mà mấy năm sau, có lần tao ra chợ Đèn Biển mua thuốc, tao thấy nó đứng đầu hẻm nhà mày. Gầy lắm, râu ria xồm xoàm. Tao gọi, nó quay đi. Tao không kể với mẹ mày. Tao nghĩ nó còn nợ người ta, nó đứng đó là nó liều.
– Lần cuối ông thấy ông ấy là bao giờ?
Ông Cả Thìn nghĩ một lúc lâu, tay vẫn luồn con thoi qua lưới.
– Chừng mười hai, mười ba năm trước. – Ông nói. – Ở cái lễ tốt nghiệp trường nghề cảng. Tao đi xem thằng cháu tao nhận bằng. Tao thấy nó đứng hàng cuối. Tao chưa kịp gọi thì nó đi mất. Hôm đó có mày nhận bằng không?
Tôi uống cạn chén chè. Chè đắng tới mức lưỡi tôi tê đi.
– Có ông ạ.
Ông Cả Thìn gật gù, cúi xuống vá lưới tiếp, không hỏi thêm gì.
Buổi khám thứ năm, bác sĩ Hảo đưa cho tôi một tờ giấy gấp đôi.
– Ngân hàng ký ức trả lời đơn của anh. – Bà nói. – Người hiến không ký giấy cho người nhận biết tên. Đơn bị từ chối.
Tôi gật đầu. Tôi đã đoán vậy.
– Nhưng có một điều. – Bà nói. – Người hiến có để lại một phong bì cho người nhận. Không có tên, không có địa chỉ, chỉ có một dòng ghi chú: nếu người nhận làm đơn hỏi tên tôi, thì đưa cái này.
Bà đặt lên bàn một cái phong bì nhỏ màu vàng, đã cũ, mép quăn.
– Còn một điều nữa, cái này thì không phải bí mật. – Bà nói thêm. – Trong giấy hiến, người hiến ghi một nguyện vọng mà ngân hàng ký ức vẫn làm theo nếu được: ưu tiên ghép cho người cùng huyết thống, nếu có ai cần.
— Hết chương 2 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe