Chương 3: Ông Ộp giữ ao
– Ông lui ra, – thầy Cò nói mà không quay lại. – Tôi nói chuyện với nó một tí.
Thầy đứng ở bậc đá thứ hai, nước ngang mắt cá chân. Con ngáo ộp cách thầy chừng mười sải tay, giữa lòng ao. Nó cúi cái phần lùm lùm như cái đầu xuống, hai hòn than đỏ nheo lại.
– Mày không bắt trẻ con, phải không? – thầy Cò hỏi.
Con vật không trả lời. Yêu sinh từ miệng người thì chỉ biết nói những câu người ta nói về nó. Từ trong cái bóng đen phát ra một tiếng ồ ồ, giống giọng bà Hai Nhiễu, giống giọng các bà mẹ, trộn vào nhau:
– Ngủ đi... không ngủ... ngáo ộp bắt...
– Ừ. Tao biết. – Thầy Cò gật gù. – Người ta bảo mày ở dưới ao, mày ở dưới ao. Người ta bảo mày bắt trẻ con, nhưng chưa ai bảo mày bắt đứa nào cụ thể, nên mày chưa bắt được. Người ta bảo mày ngồi trên mái, mày ngồi trên mái. Mày chả biết mày là cái gì. Mày chỉ là cái người ta nói.
Con vật đứng im.
Thầy Cò quay lại bờ, gọi ông phó lý:
– Sáng mai ông họp làng cho tôi. Gọi cả bà Hai Nhiễu. Gọi cả trẻ con.
Sáng hôm sau, sân đình chật người. Thầy Cò đứng trên bậc thềm, cái nón chóp rách đội lệch, nói như người bán kẹo rao hàng.
– Bà con muốn trừ con ngáo ộp thì có hai cách. Cách thứ nhất, cả làng từ nay không ai được nhắc tên nó nữa. Một tháng không ai nhắc, nó bé lại như con chuột, chui vào xó bếp. Cách này rẻ, không mất thóc.
Các bà mẹ nhìn nhau. Ai cũng biết mình không làm được.
– Cách thứ hai, – thầy Cò nói tiếp. – Không bắt nó bé đi. Đổi cái việc của nó.
Thầy giải thích. Yêu sinh từ miệng người thì người nói nó là gì, nó thành cái ấy. Năm năm nay cả làng nói nó bắt trẻ con, nó học làm cái đứa đi bắt. Chưa bắt được đứa nào là vì nó chưa đủ nặng. Nhưng nó nặng lên mỗi ngày.
– Giờ bà con nói khác đi. Nói rằng nó giữ ao. Nói rằng đứa nào ra ao một mình thì nó đẩy vào bờ. Nói nhiều vào, mỗi tối một lần. Nói cho tới khi nó tin.
Ông lò rèn gãi đầu:
– Thế nó vẫn to bằng con trâu à?
– To bằng con trâu mà giữ ao thì tốt chứ sao. – Thầy Cò nhún vai. – Nhưng mà nói trong nhà thì đừng nói. Ra bờ ao mà nói. Đừng nhắc nó trên giường trẻ con nữa. Nó không biết chỗ nào là ao chỗ nào là giường, ở đâu có tên nó là nó tới.
Một người đàn bà rụt rè giơ tay.
– Thế không lấy ngáo ộp ra dọa thì dỗ chúng nó ngủ kiểu gì?
– Kể chuyện khác. – Thầy Cò nói. – Ai không biết chuyện gì thì ra đây tôi bán cho, một thanh kẹo kèm một chuyện.
Cả sân đình cười. Chỉ có bà Hai Nhiễu không cười. Bà ngồi ở góc sân, tay giữ chặt con bé Chanh năm tuổi.
– Thầy nói thì hay, – bà nói, giọng khàn đặc. – Nó giữ ao. Lỡ nó không giữ thì sao? Lỡ con Chanh ra ao...
Cả sân im phắc.
Thầy Cò bước xuống bậc thềm, đi tới trước mặt bà.
– Bà ạ, – thầy nói, giọng thấp hẳn. – Năm năm nay bà dọa con nó chỉ vì một chuyện: làng này không ai biết bơi. Đứa nào ngã xuống ao, người lớn ra tới nơi cũng chỉ đứng trên bờ mà khóc. Con ngáo ộp nó không cứu được ai. Bà biết. Bà dọa vì bà không có cách gì khác.
Bà Hai Nhiễu không nói gì. Môi bà mím lại.
– Tôi ở lại làng thêm một tháng, – thầy Cò nói, quay ra cả sân. – Không lấy thêm thóc. Trẻ con đứa nào từ năm tuổi trở lên, sáng nào cũng ra ao đình. Người lớn ai muốn học cũng ra. Tôi dạy bơi.
– Thầy trừ yêu mà biết dạy bơi à? – ai đó hỏi.
– Thầy trừ yêu dạo mà không biết bơi thì sang sông kiểu gì? – thầy Cò vặn lại.
Tháng ấy là tháng Tám, nước ao còn ấm. Sáng nào thầy Cò cũng đứng dưới ao, nước ngang ngực, một tay đỡ bụng đứa trẻ, tay kia chỉ lên bờ. Ông phó lý đứng trên bờ cầm cây sào tre dài. Ban đầu chỉ có mười đứa. Tuần thứ hai, hai mươi đứa. Tuần thứ ba thì có cả mấy ông bố, ngượng nghịu cởi áo, lội xuống chỗ nước nông.
Tối tối, ở bờ ao, các bà mẹ đứng thành một hàng, nói về phía mặt nước: "Ông Ộp giữ ao. Đứa nào ra một mình thì đẩy vào bờ." Nói một lần, rồi về. Trên giường thì không ai nhắc tên nó nữa. Thay vào đó là chuyện Tấm Cám, chuyện cây khế, chuyện con cóc kiện trời mà thầy Cò kể đi kể lại ở quán nước, ai nghe thuộc thì về kể lại.
Chỉ có bà Hai Nhiễu là không ra bờ ao. Tối nào bà cũng thổi đèn, "phù" một tiếng, rồi nằm im, không dọa, không kể. Con bé Chanh không quen, cứ trằn trọc tới khuya.
Đêm thứ mười hai, con bé trằn trọc tới mức bò ra khỏi chăn.
Nó không định đi đâu xa. Nó chỉ muốn nhìn ông Ộp một lần, cái con vật mà cả làng giờ nói tới bằng giọng khác hẳn. Nó rón rén mở cửa liếp, đi chân đất ra bờ ao. Trăng hạ tuần mọc muộn, mặt ao tối om. Nó bước xuống bậc đá thứ nhất, rồi thứ hai. Tới bậc thứ ba, chân nó đạp lên lớp rêu.
Thầy Cò ngủ ở chái đình, nghe một tiếng "tõm" thì bật dậy như lò xo. Thầy chạy ra tới bờ ao thì thấy một cảnh mà sau này thầy kể đi kể lại ở chục cái làng khác.
Con bé Chanh nằm sấp trên bậc đá trên cùng, ho sặc sụa, nước ộc ra từ mũi. Sau lưng nó, dưới mặt nước đen, một cái bóng to cỡ con lợn nái đang từ từ lặn xuống. Trên mắt cá chân con bé còn in một vệt bùn, như dấu một bàn tay to, không phải nắm kéo xuống mà đẩy lên.
Bà Hai Nhiễu chạy ra sau thầy Cò một bước. Bà ôm chầm lấy con bé, sờ khắp mặt khắp tay nó, rồi ngồi bệt xuống bờ ao, không nói được câu nào.
Thầy Cò đứng nhìn mặt nước một lúc, rồi quay sang bà.
– Nó tin rồi đấy bà ạ, – thầy nói khẽ. – Mười hai tối cả làng bảo nó giữ ao, nó tin rồi. Nhưng mà nó vẫn còn chờ tiếng bà đấy. Năm năm, bà gọi nó nhiều hơn cả làng cộng lại.
Bà Hai Nhiễu ngồi im rất lâu. Rồi bà đứng dậy, bế con bé Chanh trên hông, đi xuống bậc đá thứ nhất, nhìn ra giữa ao.
– Ông Ộp, – bà nói, giọng khàn khàn, run run. – Ông giữ ao cho tôi. Đứa nào ra một mình thì ông đẩy nó vào bờ.
Mặt ao gợn lên một vòng tròn nhỏ, rồi lặng.
Từ hôm ấy, sáng nào con bé Chanh cũng là đứa xuống ao đầu tiên.
Mái rạ không võng nữa.
Con ngáo ộp thì nhỏ dần. Không phải nhỏ như con chuột, vì người ta vẫn gọi nó mỗi tối ở bờ ao. Nó nhỏ lại bằng con chó mực, rồi bằng con mèo mướp. Thỉnh thoảng có đứa trẻ thấy nó nằm cuộn tròn trên bậc đá rêu, đuôi thõng xuống nước, mắt lim dim như mèo phơi nắng. Bọn trẻ gọi nó là ông Ộp, có đứa còn ném cho nó nửa cái kẹo vừng. Nó không ăn, nhưng không bỏ đi.
Ngày cuối cùng, thầy Cò gánh hai cái thúng ra cổng làng. Thúng đựng kẹo trống trơn. Thúng đựng thóc thì chỉ có hai thúng rưỡi đổ chung vào một.
Bà Hai Nhiễu ra tiễn. Bà dắt theo con bé Chanh. Con bé tóc còn ướt, vì sáng nay nó vừa bơi được một mạch từ bậc đá ra tới cụm sen già giữa ao, rồi quay vào, không cần ai đỡ.
Bà không nói cảm ơn. Bà dúi vào tay thầy Cò một gói lá chuối, bên trong là nắm xôi lạc còn ấm.
Tối hôm ấy, ở căn nhà sát ao đình, bà Hai Nhiễu thổi tắt ngọn đèn dầu lạc. "Phù."
Con bé Chanh nằm trong chăn, chờ.
– Ngày xưa, – bà nói, – có một thằng bé tên là Thóc. Nó hái sen giỏi nhất làng...
Ngoài ao, trên bậc đá rêu, một cái bóng nhỏ bằng con mèo nằm cuộn tròn, hai hòn than đỏ trong mắt dịu xuống thành hai đốm lửa đóm. Nó nghe giọng bà Hai Nhiễu kể, và lần đầu tiên, nghe thấy một câu chuyện không có tên nó trong đó.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe