Chương 3: Đại Lô
Luật nói không được nhờ người khác truyền linh lực. Luật không nói gì về tro.
Tôi nghĩ tới chuyện để kệ nó. Nó là đứa cười tôi từ sáng. Nó tắt thì thôi, bớt một đứa giành suất. Nghĩ thế thật. Rồi tôi nghĩ tới mẹ, sáng nào ở làng tôi cũng có đứa trẻ con nhà bên cầm cái môi sắt sang xin mẹ một hòn than để nhóm bếp, và mẹ chưa từng nói không.
Tôi rắc nửa nắm tro còn lại vào lô của Mạnh.
– Mày làm gì đấy? – Nó rít lên, giọng khản đặc.
– Nén xuống bằng linh lực của mày. – Tôi nói. – Nén tro lại như nén đất làm khuôn. Đừng nuôi lửa to. Nuôi nó vừa đủ thở thôi.
Nó trừng mắt nhìn tôi. Rồi nó nhìn đốm lửa bằng hạt lạc đang chìm dưới lớp tro. Nó không có linh lực thổ để nén. Nó chỉ có lửa. Nó làm vụng về, linh lực đẩy vào tro lúc mạnh lúc yếu, làm tro bùng lên từng đốm. Nhưng nó làm theo.
Một lúc sau, tiếng khò khè của nó nhỏ dần.
Giờ Thìn. Mặt trời mọc đỏ ối sau dãy núi phía đông. Trên sân đá, năm cái lô còn lửa. Hai cái trong đó trông như đã nguội: lô của tôi và lô của Mạnh.
Trưởng lão Dư Thị Cẩm đi từ mái hiên ra, tay chống gậy trúc, đi một vòng quanh sân. Bà dừng lại trước lô của tôi.
– Mở ra. Nung đan phôi đi.
Tôi đặt viên đan phôi bằng đất sét lên lớp tro. Tôi gạt nhẹ tro sang một bên, cho tới khi thấy một chấm sáng xanh nhỏ xíu, như hòn than mẹ ủ đêm qua. Tôi cúi xuống, thổi.
Đây là lúc cha tôi đẩy lửa. Tôi dồn hết linh lực mộc còn lại vào hơi thở, như ném củi khô vào lò. Đốm lửa bừng lên, xanh, rồi xanh nhạt, rồi trắng. Linh lực hỏa của tôi yếu, nhưng nó đã nghỉ cả đêm. Nó chỉ cần cháy trong mười hơi thở.
Viên đan phôi đỏ dần, đỏ cam, rồi vàng chanh. Tôi rút tay lại, như cha rút củi.
Bà trưởng lão nhặt viên đan phôi lên bằng hai ngón tay, gõ nhẹ vào gậy trúc. Nó kêu "cong", trong như tiếng chuông nhỏ.
Bên cạnh, Mạnh cũng đang thổi. Lửa của nó lên chậm hơn, lóng ngóng, nhưng lên. Viên đan phôi của nó đỏ cam thì nó run tay quá, không giữ được nữa. Chín vừa đủ. Bà trưởng lão gõ thử. Kêu "cạch". Đục, nhưng không vỡ.
Sau khi bà trưởng lão đi qua, Mạnh ngồi bệt xuống sân đá, hai tay đỏ au, áo lụa ướt sũng mồ hôi. Nó nhìn viên đan phôi kêu "cạch" của nó, rồi nhìn tôi.
– Sao mày cho tao?
– Tro ấy mà. Ở làng tao ai xin lửa cũng cho.
– Tao cười mày cả ngày.
– Thì mày cười. – Tôi nói. – Cười đâu có làm tắt lửa của tao.
Nó im lặng một lúc lâu, rồi lục trong túi áo ra một gói giấy dầu, bên trong là mấy miếng bánh khảo mẹ nó gói cho. Nó bẻ đôi, đưa tôi một nửa, không nói gì. Bánh khảo nhà giàu ngọt lắm, ngọt hơn bánh ở chợ làng tôi nhiều.
Năm lô giữ được lửa tới sáng. Ba đứa lửa to, sáng ra đẩy lửa quá tay, đan phôi nứt toác, ông chấp sự lắc đầu, cho chúng thi lại năm sau. Hai đứa đỗ là hai đứa có cái lô trông như nguội ngắt. Tôi và Mạnh.
Bà trưởng lão không chấm điểm. Bà đứng nhìn tôi rất lâu, rồi hỏi:
– Tro này của nhà cháu à?
– Dạ, tro bếp mẹ cháu gói.
– Bếp đun gì?
– Dạ, rơm rạ với củi nhãn ạ.
Bà gật gù, như thể câu trả lời ấy quan trọng lắm.
– Theo bà.
Bà dẫn tôi đi qua ba dãy nhà, lên một khoảnh sân cao nhất trên núi. Ở giữa sân là một cái lò to như cái đình làng tôi, xây bằng gạch chịu lửa đã đen bóng, cửa lò cao hơn đầu người. Lạnh ngắt. Trên nóc có cỏ mọc.
– Đại Lô. – Bà nói. – Tông môn này đốt nó một nghìn hai trăm năm, chưa từng tắt. Mười một năm trước, người coi lò mất, nó tắt theo. Từ đó tới giờ, đệ tử thuần hỏa nào lên nhóm cũng chỉ được ba ngày. Lửa to, cạn sức, tắt. Bà già rồi, linh lực không đủ.
Bà quay sang tôi.
– Cái lò này không cần lửa to. Nó cần một đứa biết cho lửa ngủ.
Tôi đứng nhìn cái lò rất lâu. Tôi biết đi theo con đường này nghĩa là gì. Đệ tử khác lên núi để tu, để luyện đan, luyện kiếm, để sau này bay đi đâu thì bay. Người coi Đại Lô thì ở với cái lò. Ngày đêm. Tu vi của tôi vốn đã chậm gấp năm người ta, ngồi canh lò thì còn chậm hơn nữa.
Nhưng cha tôi cũng ngồi canh lò cả đời, và tôi chưa thấy cha sống dở. Mỗi mẻ chum ra lò, cha gõ từng cái nghe tiếng, cái nào kêu trong thì cha cười, cười như người vừa được ai khen. Cả làng Bến Then ăn cơm bằng nồi cha nung, muối dưa bằng vại cha nung. Tôi nghĩ mãi, không thấy cái đời ấy chỗ nào kém hơn một đời bay trên mây.
Tôi đặt tay lên thành Đại Lô. Gạch lạnh như đá giếng. Nhưng sâu tận bên trong, qua lớp gạch dày hơn một sải tay, tôi nghe được một thứ hơi ấm rất mờ, như hơi người vừa rời khỏi chỗ nằm. Cái lò này chưa chết hẳn. Nó chỉ đang chờ người biết gọi nó dậy.
– Dạ. – Tôi nói.
Mùa đông năm ấy, Đại Lô cháy lại. Tôi nhóm nó bằng một đốm linh hỏa xanh bằng hạt đậu, nuôi bằng năm màu nhạt, và ủ nó qua đêm đầu tiên bằng một nắm tro mà Mạnh xuống tận làng Bến Then xin mẹ tôi mang lên. Nó đi bốn ngày, về áo lụa lấm lem, mặt đen nhẻm khói bếp, bảo mẹ tôi bắt nó ở lại ăn cơm hai bữa mới cho tro.
Giờ Đại Lô đã cháy được sáu năm. Thằng Mạnh lên nội môn rồi, mỗi lần luyện đan hỏng lại chạy sang lò tôi ngồi, càu nhàu. Tôi vẫn ở ngoại môn. Tu vi của tôi chậm, đúng như người ta nói. Nhưng sáng nào tôi cũng gạt lớp tro trên miệng Đại Lô ra, thấy đốm lửa xanh vẫn còn đó, thổi nhẹ, thấy nó dậy.
Nếu đứa nào ở làng sau này lên núi Than Hồng, nhớ mang theo một nắm tro bếp nhà mình. Lên tới nơi, cứ hỏi lò của cu Đất. Ai cũng chỉ được.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe