Chương 3: Còn hai ngày, còn một ngày
Còn hai ngày, giờ Tý.
Tứ ngồi trên giường, ống tre đặt trước mặt. Dãy nhà ngoại môn ngủ say, tiếng ngáy từ phòng bên vọng sang đều đều.
Anh rút nén hương ra. Nó nằm trong lòng bàn tay anh, nhẹ như một que tăm, màu nâu đỏ. Anh châm lửa vào đèn dầu.
Đầu nén hương đỏ lên, khói bốc thành một sợi mảnh, thẳng, không lay động dù có gió lùa. Mùi khói ngòn ngọt, lẫn một chút hăng như mùi tóc cháy. Anh nhắm mắt, hít vào, vận công.
Linh lực trong người anh như con nước được mở cống. Nó dâng, dâng nhanh tới mức anh nghe tiếng ù trong tai. Vạch thứ sáu đang tới gần, rất gần, anh cảm được nó như cảm được bờ đá dưới chân khi lội trong nước đục.
Và anh nghe một thứ khác nữa. Một thứ như tiếng nhỏ giọt, đều đều, ở đâu đó trong lồng ngực. Mỗi giọt rơi đi, anh thấy mình nặng thêm một chút, mỏi thêm một chút.
Anh nhìn thấy, trong làn khói, mẹ anh ngồi bên khung dệt chiếu. Bà già đi. Rồi bà già hơn nữa. Rồi cái khung dệt trống không, sợi cói chùng xuống, và ở góc vườn có cây cau trổ buồng thứ mười, thứ mười một, không ai bổ.
Anh mở mắt. Anh bóp tắt đầu nén hương bằng hai ngón tay.
Ngón tay anh bỏng rát. Nén hương đã cháy mất chừng một phần năm.
Anh ngồi đó, thở dốc, nhìn vào cái gương đồng nhỏ treo trên vách. Bên thái dương trái của anh, có một nhúm tóc đã trắng. Chừng hai năm, anh đoán. Hai năm đã bay theo khói, và anh vẫn ở tầng năm, đầy tám phần.
Anh đặt nén hương còn lại vào ống tre, đậy nắp.
Còn một ngày, Tứ không thiền. Anh đi chào người. Chào lũ nhỏ trên bãi đá, dặn con bé Út Na nhớ thở ra sáu nhịp. Chào ông đầu bếp ngoại môn, người đã cho anh vét nồi cơm cháy suốt mười năm. Chào mấy người cùng khóa đã lên nội môn, họ ngượng nghịu chúc anh lên đường bình an.
Chiều tối, anh mang bó rau dớn cuối cùng tới cho ông Vạn. Ông nhìn nhúm tóc trắng bên thái dương anh, không hỏi gì.
– Ông có muốn gửi gì về làng Bãi Trúc không? – Tứ hỏi. – Đường về Đồng Cói đi ngang đó.
Ông Vạn ngồi im một lúc lâu. Rồi ông đứng dậy, lục trong cái rương gỗ dưới gầm bàn, lấy ra một gói giấy nhỏ, bên trong là một nắm chè búp đã khô.
– Bà thích chè búp trên núi này. – Ông nói. – Ba mươi năm, năm nào ta cũng sao một ít, định gửi về. Rồi năm nào cũng để quên.
Ngày tròn hai mươi lăm.
Sáng sớm, Tứ đặt tay lên đá đo lần cuối. Vệt sáng lên tới vạch thứ năm, đầy chín phần, và dừng.
Ông Vạn cầm bút. Lần này tay ông run tới mức phải dừng lại hai lần mới viết xong. Hai chữ: "Hạ sơn."
Rồi ông viết thêm một dòng nhỏ bên dưới, ngoài lề, chỗ mà xưa nay sổ đo không ai ghi gì: "Dạy được đệ tử Út Na thở đúng, lên tầng ba trong một tuần trà. Ta làm sổ ba mươi năm, chưa thấy ai."
Ông gấp sổ lại.
– Đi đi con. Đi kịp mùa cau.
Tứ khoác bọc quần áo ra tới đầu bậc đá. Lũ nhỏ trên bãi đá đã đứng chờ ở đó từ bao giờ. Con bé Út Na chạy lên trước, dúi vào tay anh một cái túi vải nhỏ, bên trong là một nắm hạt dẻ rừng rang, còn ấm.
– Em lên tầng ba rồi anh Tứ ơi. – Nó nói, mắt đỏ hoe. – Mai mốt em lên tầng sáu, em xuống Đồng Cói tìm anh, anh dạy em tiếp nhé.
– Lên tầng sáu thì người ta dạy em, cần gì anh.
– Người ta dạy theo sách. – Con bé nói. – Sách viết cho người lớn.
Anh cười, xoa đầu nó lần cuối, rồi đi xuống ba nghìn bậc đá.
Anh đi không nhanh. Bậc đá nào anh cũng biết. Bậc thứ bảy trăm có một vết mẻ hình con cá, năm đầu anh vấp ở đó, gãy một cái răng. Bậc thứ một nghìn hai trăm có cây thông mọc xiên ra, mùa hè nào anh cũng ngồi đó hóng mát sau khi gánh nước. Bậc thứ hai nghìn có một cái miếu nhỏ thờ ông thổ địa, đệ tử ngoại môn ai đi ngang cũng đặt một hòn sỏi. Anh đặt hòn sỏi thứ bao nhiêu anh cũng không còn nhớ. Lần này anh đặt hòn cuối cùng.
Tới bậc cuối, anh ngoái lại. Trên đầu bậc đá, xa tít, vẫn còn mấy chấm nhỏ đứng đó. Anh đi bốn ngày tới làng Bãi Trúc, hỏi đường ra nghĩa địa, tìm được ngôi mộ có tấm bia ghi tên mẹ ông Vạn. Cỏ trên mộ xanh mướt. Anh nhổ cỏ, đặt gói chè búp lên mộ.
Rồi anh mở ống tre, lấy ra nén Thiêu Thọ Hương còn bốn phần năm. Anh cắm nó xuống đất trước mộ, châm lửa, rồi đứng lùi ra xa, quay lưng về phía gió, không hít, không vận công.
Nén hương mười năm cháy trong gió đồng, khói tan ngay khi vừa bốc lên. Nó cháy hết mà không lấy của ai năm nào.
Anh đi thêm hai ngày nữa thì tới làng Đồng Cói. Bãi chiếu phơi trắng xóa dọc đường làng như tuyết. Mẹ anh đang ngồi bên khung dệt ở hiên nhà, tóc đã bạc nhiều hơn anh nhớ, nhưng không bạc như trong làn khói.
Bà ngẩng lên, nhìn thấy anh, đánh rơi con thoi.
Cây cau ở góc vườn cao vút, buồng cau đầu tiên đã già, quả vàng ruộm. Người làng Đồng Cói muốn hái cau phải trèo, ôm thân, hai chân kẹp, nhích từng gang. Tứ đứng dưới gốc, nhún nhẹ một cái. Luyện Khí tầng năm, đầy chín phần, đủ để đứng trên ngọn một cây cau mà không cần ôm thân.
Mẹ anh đứng dưới gốc, ngửa cổ nhìn lên, cười tới chảy nước mắt.
– Cái thằng này, mười năm lên núi, về chỉ để trèo cau cho mẹ.
Anh bẻ buồng cau, ôm vào lòng, nhảy xuống.
Tối hôm ấy, bên mâm cơm có đĩa cá đối kho và bát canh rau má, mẹ anh bổ cau, têm trầu, nhai bỏm bẻm, kể chuyện làng mười năm. Bà không hỏi anh tu tới đâu. Lúc dọn mâm, bà mới khẽ chạm vào nhúm tóc trắng bên thái dương anh, nhìn rất lâu, rồi cũng không hỏi.
Sáng hôm sau, anh nhờ ông đồ đầu làng viết hộ một lá thư gửi lên núi Bạch Lộc, gửi ông Vạn ở sân Bắc. Thư kể rằng mộ bà ở Bãi Trúc cỏ đã nhổ sạch, gói chè búp đã đặt lên, có thắp hương.
Chẳng bao lâu sau, sân đình làng Đồng Cói có một lớp học thở, mỗi chiều sau giờ phơi chiếu. Học trò là lũ trẻ chăn trâu, thằng lớn nhất mười hai tuổi. Người dạy bảo chúng hít vào bốn nhịp, thở ra sáu nhịp, vì sách viết cho người lớn.
Mùa đông năm ấy, người ở Bạch Lộc Tông nhắn về: ông Vạn mất, nhẹ nhàng, trong lúc ngồi ở bàn đo. Cuốn sổ đo mở ra ở trang cuối, có một dòng ông ghi sau cùng, chữ run tới mức người ta phải đoán: "Gửi chè về được rồi."
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe