Chương 3: Tro rơm nếp
Hạo không gỡ.
Anh ta mời ông Khoái vào, rót trà, nghe hết, rồi lắc đầu. Tấm Tụ Linh là phù trấn tiệm, tổng hiệu ở thành Vạn Lộ gửi xuống, tiệm nào của Kim Phù Các cũng treo một tấm y hệt. Gỡ phù trấn tiệm xuống là tổng hiệu coi như tiệm đóng cửa.
– Với lại, cụ nói chuột bạc ăn linh khí, cái đó con biết. – Hạo nói, vẫn giữ giọng lễ phép. – Nhưng phù của cụ cũng là phù. Phù thì có linh lực. Sao chuột nó không ăn phù của cụ?
Ông Khoái thò tay vào bọc, lấy ra một lá phù đuổi chuột, đặt lên bàn.
– Cậu thử đi.
Hạo đặt hai ngón tay lên lá phù, nhắm mắt. Một lúc lâu. Rồi anh ta mở mắt, nhìn ông Khoái như nhìn một người lạ.
– Không có gì. – Hạo nói. – Gần như không có gì. Chưa tới một phần mười.
– Cậu nói dư rồi. – Ông Khoái cười. – Ông vẽ bốn chục năm, ông biết. Linh lực trong phù ông có chừng bằng hơi nóng trong cái nồi cơm nguội.
– Vậy nó đuổi chuột bằng gì?
– Bằng mùi.
Ông Khoái cầm lá phù đưa lên mũi Hạo. Mùi khói rơm nếp, mùi bếp chiều, mùi cơm sắp chín.
– Chuột bạc sống ở rừng tràm mấy trăm năm. – Ông nói. – Mấy trăm năm nay, cái làm nó sợ nhất là người đi rừng hun bộng cây bằng rơm để bắt nó. Nó không sợ kiếm, không sợ phù. Nó sợ khói rơm. Ông nội ông dạy ông: muốn chuột tránh nhà mình thì nhà mình phải có mùi nhà có người ở. Nét phù chỉ để giữ tro đứng một chỗ trên giấy, cho mùi bay ra đều, đừng bay hết một lần. Ba đồng là tiền giấy, tiền tro, tiền công rây.
Hạo im lặng rất lâu. Rồi anh ta đứng dậy, ra sau tiệm, xách vào một cái lồng tre. Trong lồng là con chuột bạc hai đệ tử bắt sống được đêm trước, đang bám lấy nan lồng, mắt đỏ lựu. Hạo đặt lá phù tro của ông Khoái cách lồng một gang tay.
Con chuột lùi lại. Lùi tới sát nan bên kia. Hai chân trước của nó cào cào vào không khí như muốn chui ra.
Hạo lấy lá phù đi, đặt vào chỗ đó một lá Tỏa Linh mới vẽ. Con chuột lập tức nhào tới, thò mõm qua nan lồng, lưỡi liếm láp vào mép giấy vàng.
Anh ta đứng nhìn con chuột liếm phù của mình. Nhót đứng cạnh cửa thấy rõ hai bàn tay anh ta nắm lại rồi buông ra.
– Năm mười hai tuổi con vào Kim Phù Các. – Hạo nói, không nhìn ai. – Sư phụ dạy con, phù tốt là phù có linh lực đi đều, không đứt một chỗ nào. Mười tám năm con chỉ học có chừng đó.
Anh ta tự tay bắc thang. Ngoài trời bắt đầu mưa lắc rắc. Anh ta leo lên, dùng một cây trâm bạc tách từng góc tấm Tụ Linh to bằng cái chiếu ra khỏi khung cửa. Tấm phù rơi xuống, ánh vàng chao một vòng trên mặt đường ướt rồi tắt. Đầu chợ tối thui. Lần đầu tiên từ rằm tháng Bảy, Nhót thấy được sao bên kia sông.
– Gỡ rồi. – Hạo bước xuống. – Nhưng chuột thì đã qua sông rồi, cụ ạ. Không có đèn, nó cũng không tự về.
– Thì mình dẫn nó về. – Ông Khoái nói. – Việc đó thì cần tới cậu.
Kế hoạch của ông Khoái đơn giản như việc nhà. Chiều mai, đúng giờ cơm, nhà nào trong trấn cũng phải nhóm bếp bằng rơm nếp, nhóm cho nhiều khói. Tro thì đổ ra bờ kênh, rải thành một đường dài từ đầu chợ xuống cuối chợ, chừa đúng một khoảng trống ở bến đò. Còn Hạo, anh vẽ một tấm Tụ Linh mới, to bằng tấm cũ, dán lên một cái bè thân chuối, thả từ bến đò cho trôi sang bên kia sông, về phía rừng tràm.
– Cái đèn câu thì vẫn là cái đèn câu. – Ông Khoái nói. – Chỉ cần treo nó đúng chỗ.
Hạo nhìn ông rồi cúi đầu thật thấp, thấp hơn cả khi chào ông trưởng trấn.
Chiều hôm sau, cả trấn Lăng Giang làm một việc chưa bao giờ làm: cùng một lúc nấu cơm. Khói rơm nếp bốc lên từ trăm cái bếp, trắng đục, lan xuống mặt kênh, quyện vào đám bông điên điển. Trẻ con xách rổ tro chạy dọc bờ kè, rải tro thành một vệt xám dài. Ông trưởng trấn Mạch Văn Thời xắn quần, tự tay đổ hai thúng tro trước cửa nhà mình, ho sặc sụa.
Trời sẫm, Hạo cùng hai đệ tử đẩy cái bè thân chuối ra giữa dòng. Tấm Tụ Linh mới trên bè bắt đầu sáng, vàng ấm, in một vệt dài trên nước. Nước nổi chảy xiết, cái bè trôi chậm rãi sang bờ bên kia.
Rồi tiếng rào rào lại tới.
Lần này Nhót đứng ngay trên bờ kè mà nhìn. Chuột bạc ùa ra từ khắp các ngả trong trấn, từ gầm nhà sàn, từ mái chợ, từ cống nước, lông sáng lấp lánh như một dòng nước bạc. Chúng chạy tới bờ kênh, gặp vệt tro thì dội lại, chạy dọc theo vệt, tìm chỗ hở. Chỗ hở duy nhất là bến đò. Từng đàn từng đàn lao xuống nước, bơi theo vệt sáng vàng của cái bè, nối đuôi nhau sang sông.
Chừng một nén nhang thì tiếng rào rào tắt. Bên kia sông, cái bè đã mắc vào gốc tràm đầu tiên, ánh vàng chìm dần vào rừng.
Người cả trấn đứng trên bờ, không ai hò reo. Mùi cơm chín bay khắp xóm.
Ba ngày sau là phiên chợ. Ông Khoái vẫn ngồi gốc me, bày giấy, bày nghiên, bên cạnh là cái bếp lò nhỏ và cái rây bột. Gần trưa, Nghiêm Tử Hạo đi tới. Áo lam vẫn thẳng, nhưng tay áo trái có một vệt xám chưa giặt sạch.
Anh ta đặt ba đồng xuống sạp, chọn một lá phù đuổi chuột.
– Cho con mua một lá, cụ. Dán ở tiệm.
– Tiệm cậu giờ đâu cần.
– Không phải để đuổi chuột. – Hạo nói. – Để con nhớ cái mùi.
Rồi anh ta ngập ngừng, hỏi nhỏ, như học trò hỏi bài.
– Cụ ơi, tro rơm nếp với tro rơm tẻ, cái nào rây mịn hơn?
Ông Khoái chưa trả lời, chỉ đưa cái rây bột cho Nhót, hất hàm ra phía bếp. Nhót xách rây đi, nghe sau lưng tiếng ông cười khùng khục, rồi tiếng Hạo cũng cười, lần đầu tiên không lịch sự chút nào.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe