Chương 2: Điểm ba rưỡi
Đặng Thị Ái ngồi bàn thứ ba dãy giữa, gần cửa sổ, cái áo dài trắng lúc nào cũng có một vết vá ở khuỷu tay trái. Con bé ít nói, viết chậm, nhưng cứ đến giờ văn là ngồi thẳng lưng như cây cau. Cha nó chèo đò đưa khách qua sông ở bến Kim Lộc, mẹ nó bán chè bột lọc ở đầu chợ. Nhà nó là một cái nhà sàn lợp tôn dựng sát mép nước.
Đêm hai mươi tháng Mười Một năm 1999, nước sông Ngân lên trong vòng mấy tiếng. Đến bây giờ, những người Lam Thành ở tuổi tôi vẫn nói về trận lụt ấy như nói về một người đã chết. Tôi chạy lên tầng hai trường Kim Lộc với mấy thầy cô khác, rồi ba ngày sau đó, trường thành chỗ trú của cả xóm thuyền. Ái ngồi ở góc phòng học lớp mười một, quấn một cái chăn của hội cứu trợ, không khóc. Cha nó còn, mẹ nó còn, nhưng nhà thì không, đò thì không. Cái đò là cả cơ nghiệp.
Tôi không biết nói gì với nó. Tôi hai mươi bảy tuổi, dạy văn được năm năm, giảng cho học trò về nỗi đau của những nhân vật trong sách, mà đứng trước một đứa con gái mười bảy tuổi mất nhà thì cổ họng tắc nghẹn. Nên đêm ấy tôi ngồi viết. Tôi viết cho nó bốn trang giấy học trò, kẻ ô li, bằng cây bút bi mượn của chính nó. Tôi viết về thành phố Lam, về mưa, về chuyện nước lên rồi sẽ xuống. Tôi viết rằng mưa Lam không rơi, mưa Lam ở lại, ở lại trong tường, trong gỗ, trong tóc người. Tôi viết rằng một người lớn lên trong mưa Lam thì có một chỗ trong người mà nước không lấy đi được.
Sáng hôm sau, tôi gấp tờ thư làm tư, để vào cái túi ni lông, đặt cạnh cái chăn của nó lúc nó còn ngủ. Rồi trường cho nghỉ, rồi mọi người về dọn nhà, và tôi không nhắc đến bức thư ấy với ai bao giờ.
Bảy tháng sau là kỳ thi tốt nghiệp. Năm ấy tôi được phân chấm văn ở hội đồng thành phố. Người ta rọc phách, bài nào cũng chỉ có một con số. Tôi đọc đến một bài viết về đề tài "quê hương trong tâm hồn em", và đến đoạn thứ hai thì gặp lại câu văn của mình. Không ngoặc kép, không ghi chú gì. Rồi đoạn thứ ba, đoạn thứ tư, cứ từng khúc, từng khúc bức thư của tôi hiện ra giữa bài làm của một đứa học trò không tên.
Tôi đã giận. Bây giờ ngồi trong phòng phúc khảo, năm mươi mốt năm sau, tôi vẫn nhớ được cơn giận ấy, nhớ cả cái nóng nó bốc lên ở hai bên thái dương. Tôi hai mươi tám tuổi, tôi nghĩ mình là người giữ gìn sự trung thực của văn chương. Tôi nghĩ đứa học trò này đã chép thư của thầy mà làm bài của mình. Tôi không nghĩ đến chuyện vì sao nó thuộc được bốn trang thư. Tôi không nghĩ đến chuyện tờ giấy ấy đã đi đâu. Tôi cho bài ấy ba điểm rưỡi, ghi bên lề: "Ý tứ vay mượn, thiếu trung thực." Giám khảo hai đồng ý với tôi. Năm ấy, ba rưỡi là trượt môn văn.
Đến khi người ta ráp phách, tôi mới biết đó là bài của Ái. Tôi không đi tìm nó. Tôi tự nhủ mình đã chấm đúng luật. Mùa thu năm ấy, tôi nghe nói nó không thi lại, ra chợ Bến Mây phụ mẹ bán chè. Tôi chuyển về dạy ở một trường khác bên kia sông. Có mấy lần đi chợ, tôi thấy nó từ xa, và lần nào nó cũng quay mặt đi trước tôi.
Chỉ có một lần nó không quay đi. Đó là một buổi trưa tháng Chạp năm 2003, trời lạnh, tôi đạp xe qua chợ Bến Mây để mua cho vợ sắp cưới một cái nón bài thơ. Mưa phùn. Tôi tấp vào mái hiên của dãy hàng ăn để tránh, và đứng ngay trước gánh chè của mẹ nó. Mẹ nó đi đâu vắng. Ái ngồi sau gánh, quấn cái khăn len cũ, tay đang múc chè bột lọc cho một bà khách.
Nó thấy tôi. Tôi thấy nó. Bà khách đi rồi, nó vẫn ngồi đó, cái muỗng nhôm còn cầm trên tay.
– Thầy ăn chè không thầy? – Nó hỏi. Giọng nó bình thường như hỏi một người khách lạ.
Tôi gật. Nó múc cho tôi một chén chè bột lọc nóng, có gừng, có nước cốt dừa. Tôi đứng ăn dưới mái hiên, nghe mưa gõ lên tấm bạt. Chén chè ngọt vừa, gừng cay ấm cả cổ họng. Ăn xong, tôi móc ví.
– Thôi thầy. – Nó nói, không nhìn tôi. – Con mời thầy.
Tôi đặt tờ tiền xuống cái mẹt, nó đẩy lại. Tôi đặt xuống lần nữa, nó không đẩy nữa, chỉ ngồi im. Tôi đứng đó, cái miệng mở ra định nói một câu gì đó về bài thi, về bức thư, về mấy chữ phê bên lề. Rồi một đám khách ùa vào tránh mưa, chen giữa tôi và cái gánh chè. Tôi đội mưa đạp xe đi. Tôi không bao giờ mua được cái nón bài thơ hôm ấy.
Về sau tôi tự nhủ, nó mời mình chén chè là nó đã bỏ qua rồi. Tôi đã sống gần năm mươi năm trên cái ý nghĩ tiện lợi ấy.
Năm mươi mốt năm. Tôi đã cưới vợ, vợ tôi đã mất. Tôi đã dạy văn cho hai nghìn đứa học trò, đã về hưu, đã ngồi ở cái bàn phúc khảo này mười lăm mùa thi. Tôi chưa bao giờ nghĩ lại về bài thi số phách nào đó năm 2000. Hay là tôi đã nghĩ, mà đã gói nó lại, cất vào cái chỗ trong người mà nước không lấy đi được.
– Thầy Hy, bài nớ thầy tính răng?
Cậu Vũ đứng bên bàn tôi. Phan Quang Vũ, ba mươi tuổi, kỹ sư phụ trách máy chấm của Sở, người duy nhất trong căn phòng này dưới sáu mươi. Cậu ấy lịch sự, chăm, ngày nào cũng đi một vòng hỏi han mấy ông bà già như đi thăm bệnh.
– Máy đánh dấu đúng không? – Tôi hỏi.
– Đúng luật thì đúng, thầy ạ. Bảy mươi mốt phần trăm so với một bài thi năm 2000. Những đoạn trong ngoặc kép máy vẫn tính là trùng, vì nguồn trích không phải là văn bản đã công bố. Em biết thầy sẽ nói là bất hợp lý, nhưng luật là rứa. Không làm rứa thì đứa mô cũng đặt ngoặc kép rồi ghi "lời ông bà em" là xong.
– Còn phần không trong ngoặc kép?
Cậu ấy cúi xuống nhìn màn hình của tôi.
– Phần còn lại máy chấm cao. Tám bảy lăm là cao lắm thầy. Năm ni cả thành phố có mười một bài trên tám rưỡi.
– Tôi xin gặp thí sinh.
Cậu Vũ nhìn tôi. Mười lăm năm, chưa ông già nào trong phòng này xin gặp thí sinh. Gặp thí sinh thì phải ghi hình, phải lập biên bản, phải có cán bộ Sở ngồi cùng, và nếu người phúc khảo nâng điểm thì cả hội đồng phải ký.
– Thầy chắc chưa? – Cậu ấy hỏi nhỏ. – Thầy biết bài ni chép từ bài cũ của ai à?
– Tôi biết. – Tôi nói. – Và bài cũ đó cũng không phải của người ta.
Cậu ấy đi ra, mười phút sau quay lại.
– Thí sinh số 0417 tên là Hồ Ngọc Huyền, mười tám tuổi, ở phường Kim Lộc. Hai giờ chiều mai em ấy lên Sở được. Em ấy hỏi có được đưa người nhà đi cùng không.
– Ai?
– Bà nội. Bà nội em ấy xin ngồi chờ ngoài hành lang.
Tôi nhìn ra cửa sổ. Mưa vẫn rơi, rơi mà như không rơi, cứ treo lơ lửng trên mặt đường như một tấm màn mỏng. Cây phượng rụng thêm một chùm hoa.
– Cho bà ấy vào. – Tôi nói. – Cho bà ấy ngồi ngoài, có ghế, có nước.
Đêm ấy tôi về căn nhà vườn ở Thủy Liễu, không ăn cơm. Tôi lục cái rương gỗ dưới gầm giường, nơi vợ tôi xưa cất tất cả những gì của tôi mà tôi bảo vứt đi. Giáo án cũ, bằng khen, mấy tập thơ chép tay hồi đi học. Tôi tìm suốt hai tiếng đồng hồ, không biết mình đang tìm gì. Rồi tôi cầm lên một quyển vở học trò năm 1999, ruột đã ố vàng. Trong đó có bản nháp bốn trang bức thư năm ấy, viết bằng bút chì, gạch xóa chi chít. Tôi đã quên mất là mình từng viết nháp.
Tôi đọc lại bản nháp. Đọc lại, tôi mới biết câu văn mà tôi đinh ninh mình không viết, câu hay hơn tôi trong bài số 0417, cũng không có ở đây.
— Hết chương 2 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe