Chương 3: Lời kể của Út Lịm
Dạ, con tên Trần Thị Lịm. Ở nhà kêu Út Lịm. Con hai mươi hai tuổi.
Con xin lỗi chị Hai với anh Năm trước, vì con nói láo. Con không phải lên Cần Giờ làm thuê kiếm tiền gửi về cho ông ngoại. Con lên đây để tìm chỗ má con mất.
Má con là Sáu Nhàn.
Hồi má mất con mới hai tuổi. Ông ngoại đem con về Long An nuôi. Ông không kể gì nhiều, chỉ nói má đi cào nghêu ngoài bãi Cần Giờ, gặp nước lớn, không về. Con không nhớ mặt má. Nhà không có tấm hình nào, vì má với ba con ở đậu, nhà cửa trôi theo một trận triều cường năm đó. Con chỉ có một cái áo bà ba nhỏ xíu má may cho con, nút bằng vỏ ốc xà cừ. Áo đó con mặc không vừa từ hồi ba tuổi, mà ông ngoại cất kỹ trong rương. Áo có bốn cái khuy, mà chỉ có ba cái nút. Chỗ cái nút thứ ba còn trống, ông ngoại nói má chưa kịp đơm. Lên Cần Giờ con mang cái áo đó theo trong ba lô, tối nào cũng lấy ra coi.
Tháng trước ông ngoại mất. Trước khi mất ông dặn con một câu: má mày hay kêu mày là Bé Rơm, vì mày ốm nhom như cọng rơm. Ông nói ông kể vậy để con biết, ngoài má con ra không ai kêu con bằng tên đó.
Con lên Cần Giờ, vô tổ chị Hai, vì con nghe nói chị Hai từng ở tổ của má. Con hỏi chị chuyện xưa, chị kể, mà con không dám nói con là ai. Con sợ chị Hai thương rồi không cho con ra mé ngoài.
Đêm qua, lúc một giờ, con trúng ổ nghêu thiệt. Con cào một hồi, ngẩng lên, thấy phía trước có một cái đèn đeo trán. Ánh xanh xanh. Con tưởng anh Năm. Con đi lại gần để hỏi anh mấy giờ rồi. Đi hoài không tới. Cái đèn lùi ra, lùi ra, mà nó lắc lư như người đang cào, nên con cứ tưởng nó đứng yên.
Con không biết con đi bao xa. Tới lúc nước tới đầu gối thì con giật mình. Con quay lại. Phía sau con không còn một cái đèn nào của tổ. Phía trước con, cái đèn xanh cũng tắt. Bốn bên tối om. Nước bò lên tới đùi, lạnh buốt.
Con biết con không về được. Con nói thiệt, lúc đó con không sợ nhiều như con tưởng. Con nghĩ chắc má con cũng đứng đúng chỗ này. Con nghĩ vậy cũng được.
Rồi có người kêu tên con.
Không phải Lịm. Không phải Út Lịm. Có người kêu: Bé Rơm.
Con quay lại. Cách con chừng chục bước, có một ngọn đèn măng sông. Ánh vàng, ấm, sáng đều. Con không thấy người cầm đèn. Con chỉ thấy cái ánh đèn rọi lên một vạt áo bà ba màu nâu, và hàng nút áo lấp lánh như cầu vồng.
Cái đèn đi trước. Con đi theo. Dưới chân con, chỗ cái đèn đi qua, bùn cứng lại như cát nén, nước rút xuống tới mắt cá. Hai bên thì nước đen ngòm, sâu hút. Con đi trên một đường nhỏ chỉ vừa một bàn chân, quanh co, lúc rẽ trái lúc rẽ phải, mà cái đèn đi tới đâu thì đường hiện ra tới đó.
Con không biết con đi bao lâu. Con không thấy lạnh nữa. Có một lúc con mệt quá, con ngồi xuống, ngay trên con đường đó. Cái đèn dừng lại, chờ. Con nghe một tiếng ru. Câu ru con không biết lời, mà con nghe quen như nghe tiếng mình thở.
Gần sáng, trời hửng, con thấy bờ đê, thấy mấy cái đèn của tổ. Cái đèn măng sông dừng lại. Con đứng dậy, muốn đi tới gần nó, muốn thấy mặt. Nó lùi lại một bước. Con nghe một câu, nói nhỏ, ngay sát bên tai con, như hồi con còn nằm trong lòng ai.
Lần sau đừng đi theo đèn nữa nghen con. Lần sau má không ra được.
Rồi cái đèn tắt. Con thấy trong tay con có cái nút áo này. Con không biết con nắm nó từ hồi nào.
Còn câu ru con nghe ngoài bãi, anh hỏi anh Năm thử. Là câu con hay hát lúc cào nghêu, cái câu con không biết lời, không biết của ai, mà từ hồi nhỏ xíu đã nằm sẵn trong miệng con. Giờ thì con biết của ai rồi.
Dạ, con nói hết rồi. Anh ghi vậy đi. Ai tin thì tin.
Ghi chú cuối biên bản, của trung úy Bùi Văn Khởi.
Trường hợp người lao động Trần Thị Lịm mất tích từ một giờ bốn mươi đến năm giờ năm mươi phút ngày mười bốn tháng Mười Hai, đã tự trở về bờ, sức khoẻ ổn định, không cần cấp cứu. Đề nghị hợp tác xã nhắc nhở các tổ cào nghêu tuân thủ giờ con nước.
Bản thân tôi có ghi nhận thêm, không đưa vào phần kết luận chính thức: sáng cùng ngày, tôi chạy xuồng ra hướng Lịm đi vô, đo độ sâu dọc đường. Không tìm thấy gờ cát nào nổi cao hơn đáy bãi xung quanh. Độ sâu đo được lúc sáu giờ mười lăm từ hai mét mốt tới hai mét bốn.
Ông Tư Ngộ, chồng bà tổ trưởng cũ, tám mươi ba tuổi, khi tôi tới hỏi, có cho biết hai chục năm trước, đêm chị Sáu Nhàn mất, ông là người cuối cùng thấy chị ngoài bãi. Ông nói chị Sáu không phải đi xa vì ham nghêu. Chị đi theo một cái đèn xanh, vì chị tưởng đó là đèn của một đứa nhỏ trong tổ bị lạc. Ông nói chị đi ra để kêu nó về.
Tôi cũng có hỏi các tổ cào nghêu khác trên bãi về cái đèn xanh. Bốn tổ trưởng nói có nghe người già kể, không ai nói mình thấy. Một tổ trưởng, ông Ba Rết, nói nhỏ với tôi là năm ngoái ông thấy một lần, ông không đi theo, ông thổi còi kêu cả tổ vô sớm. Ông nói đêm đó ông cũng thấy một ngọn đèn vàng đứng ở phía sau cái đèn xanh, xa hơn, đứng yên, như canh chừng.
Những lời trên đây tôi ghi lại vì tôn trọng người khai, không có giá trị kết luận.
Cái nút áo, Lịm xin giữ lại. Tôi đồng ý.
Tối đó Lịm khâu nó vô cái áo bà ba nhỏ của mình, ngay chỗ trống của cái nút thứ ba.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe