Chương 1: Phiên mười giờ đêm
– Chú Dư vô rồi kìa. Chú Dư ơi, hôm nay chú ăn cơm với gì?
Đấy, cô ấy chào tôi như thế, đêm nào cũng như thế, từ hồi tháng Ba. Tôi năm nay bảy mươi mốt tuổi, ba mươi hai năm làm thợ máy tàu hàng, về hưu thì ở với thằng cháu nội trong căn nhà ống phố Lạch Tray. Bà nhà tôi mất được bốn năm. Con trai con dâu đi làm bên Nhật. Thằng cháu tên Phong, học năm ba trường hàng hải, tối nào cũng đeo tai nghe chơi trò bắn súng tới một hai giờ sáng. Hai ông cháu ở chung một nhà mà nói với nhau mỗi ngày chưa được mười câu.
Cái điện thoại này là thằng Phong cài cho. Nó bảo ông nằm buồn thì xem cái này, rồi nó mở một phiên bán hàng trực tiếp. Tôi chẳng định mua gì. Tôi lướt qua mấy cô bán quần áo nói nhanh như súng liên thanh, mấy cậu bán đồng hồ hét khàn cả cổ. Rồi tôi dừng ở một cô ngồi trên cái sạp gỗ, sau lưng là mái lá với một khúc sông màu nước trà, ánh đèn vàng treo trên cột. Cô ấy chẳng hét. Cô ấy cầm một nắm tôm khô lên, bẻ đôi một con cho người xem thấy thớ thịt, rồi nói chậm rãi bằng cái giọng Cà Mau:
– Tôm này em phơi ba nắng. Mấy cô mấy chú coi cái màu nè, nó đỏ cam, không có đỏ chót. Đỏ chót là có vấn đề đó nghen.
Sau lưng cô có cái chuông gió kết bằng bảy cái vỏ sò trắng, treo dưới mái lá. Gió sông thổi qua thì nó kêu lách cách, tiếng đục đục, không trong như chuông đồng. Tôi nghe tiếng ấy mà nhớ tới đêm tàu neo ở cửa Bồ Đề hồi tôi ba mươi tuổi. Tôi để nguyên đấy mà nghe. Nghe tới hết phiên.
Cô tên Kha Thị Ngát, ba mươi tám tuổi, chồng mất vì tai nạn ghe năm năm trước, nuôi hai đứa con với bà mẹ chồng ở một xóm ven sông gần Năm Căn. Những cái đó tôi không hỏi, cô tự kể dần dần qua mấy chục phiên, lúc vắng khách. Mỗi đêm cô bán từ mười giờ tới gần mười hai giờ, người xem lúc đông nhất được hơn hai trăm. Tôm khô loại một một triệu ba trăm nghìn một ký, khô cá dứa hai trăm tám chục nghìn một ký, ba khía muối bán theo hũ. Ai trả giá thì cô cười bảo em không bớt được, em bớt là em phải bớt ngày phơi.
Tôi mua một lần, nửa ký tôm, vì thấy ngồi xem không mua thì kỳ. Gói hàng ra tới Hải Phòng mất bốn ngày, bọc ba lớp, trong có tờ giấy viết tay: "Cảm ơn chú Dư. Chú ăn thấy mặn thì ngâm nước lạnh mười phút." Tôi để tờ giấy ấy trên nóc tủ lạnh.
Mắt tôi kém. Gõ chữ trên điện thoại thì sai be bét, chữ "ngon" ra chữ "ngoan". Nên thằng Phong cài cho tôi một cái nút, bấm vào là máy tự ghi lại cả phiên, để hôm sau tôi nằm nghe lại cho kỹ rồi mới đặt hàng. Thằng Phong bảo ông dùng cái này cẩn thận kẻo đầy máy. Tôi gật đầu cho xong chuyện, mà cứ bấm. Đêm nào cũng bấm. Tính tới tháng Chín, trong máy tôi có chín mươi mốt phiên của cô Ngát, phiên nào cũng hai tiếng.
Thằng Phong biết thì nhăn mặt:
– Ông ơi, ông lưu cái này làm gì? Hai trăm tiếng bán tôm khô!
Tôi không biết trả lời nó thế nào. Tôi bảo ông thích nghe. Nó lắc đầu, bảo ông già rồi lẩm cẩm, rồi xóa bớt mấy cái ứng dụng khác cho máy tôi nhẹ đi. Phiên của cô Ngát thì nó để nguyên.
Đêm mười hai tháng Chín, mười giờ năm phút, tôi bấm vào như mọi khi. Màn hình đen. Có một dòng chữ báo phiên đã kết thúc. Tôi nằm chờ tới mười một giờ, rồi mười hai giờ. Đêm mười ba cũng thế. Cái quạt trần quay một mình. Tiếng xe container ngoài đường Lạch Tray rền như tiếng sóng.
Sáng hôm sau, thằng Phong gõ cửa phòng tôi lúc sáu giờ, việc nó chưa từng làm từ hồi lên đại học. Nó chìa cái điện thoại của nó ra.
– Ông ơi, có phải cô bán tôm khô của ông đây không?
— Hết chương 1 —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu