Chương 2: Ba điều không được bỏ
Dì Ba Hương Ly hai mươi sáu tuổi, đẹp nhất phủ, cũng thông minh nhất phủ, theo cách của dì. Dì về làm lẽ cha tôi được năm năm, năm nào cũng mong có con trai, năm nào cũng thất vọng. Dì biết chuyện cưới cháu gái quan Bố chánh trước cả mẹ tôi. Dì không ghen. Dì tính.
Sáng hôm sau, dì xuống bếp, đứng ở cửa, nhìn mẹ tôi và tôi đang lăn cái chum sứt về chỗ cũ cạnh giếng.
– Chị cả định làm gì thế? – Dì hỏi, giọng ngọt. – Định để quan Bố chánh xem cái chum này à?
– Thì để ông ấy xem. – Mẹ tôi đáp, không quay lại.
– Chị nghĩ thế mà được à? – Dì Ba bước xuống bậc, váy lụa quét qua đám rêu. – Chị cả, em nói thật lòng. Chị tính cái chum này nhắc ông nhà chuyện ngày xưa nghèo khổ, chị đã nuôi ông ăn học, rồi ông động lòng không bỏ chị nữa. Chị nhầm rồi. Ông nhà ghét nhất là bị nhắc chuyện ngày xưa. Nhắc trước mặt khách, ông nhà còn giận hơn.
Mẹ tôi lau tay vào vạt áo, đứng thẳng lên.
– Dì nói đúng. – Mẹ bảo. – Ông ấy ghét bị nhắc.
Dì Ba nhìn mẹ tôi một lúc, như không tin mẹ lại chịu nhận nhanh thế. Rồi dì cười, đi lên nhà trên.
Tối hôm ấy dì Ba lại đến, lần này đến tận buồng mẹ tôi, mang theo một đĩa bánh khảo và một ấm trà sen. Tôi ngồi ở góc giường khâu áo cho em Bông, dì không đuổi tôi ra. Có lẽ dì muốn có người nghe.
– Chị cả, – dì rót trà, hai tay dâng chén, – em nói chuyện người lớn với chị. Ông nhà đã quyết rồi. Chị cãi cũng không được, mà chị khóc thì càng xấu. Em đã thưa với ông, để chị về quê cho êm, ông cắt cho chị mười mẫu ruộng ở làng Bần Hạ, xây cho chị ba gian nhà ngói. Con Thuần với con Bông thì vẫn là con quan phủ, em hứa với chị, em lo cho chúng nó gả chồng tử tế. Chị về quê, làm tương, ngày ngày nhàn hạ. Thế chẳng hơn ở đây để người ta chỉ trỏ à?
Mẹ tôi cầm chén trà, không uống.
– Dì lo cho tôi chu đáo quá. – Mẹ nói.
– Em không lo cho chị thì ai lo. – Dì Ba nói, rất thật. – Chị cả, em không ghét chị. Em chỉ biết đàn bà trong nhà này, ai không có con trai thì phải tự lo lấy thân mình. Em cũng đang tự lo đây.
Tôi tin dì nói thật. Đó là điều làm tôi sợ nhất.
Mẹ tôi đặt chén trà xuống, nguyên.
– Mười mẫu ruộng thì nhiều. – Mẹ nói. – Nhưng ngày tôi về nhà ông ấy, nhà ông ấy không có một sào. Dì để tôi nghĩ thêm.
Dì Ba gật đầu, nhìn mẹ tôi thêm một lúc, rồi đứng dậy, để lại đĩa bánh khảo.
Chiều hôm ấy, khi chỉ có hai mẹ con trong bếp, tôi hỏi:
– Mẹ ơi, có phải lệ nước có ba điều không được bỏ vợ không?
Mẹ đang vo gạo. Bà dừng tay.
– Ai dạy con?
– Con đọc trong sách của cha. Có bảy điều được bỏ, ba điều không được bỏ. Không được bỏ người vợ không còn nhà để về. Không được bỏ người vợ đã để tang cha mẹ chồng ba năm. Không được bỏ người vợ đã cùng chồng qua lúc nghèo hèn, nay chồng giàu sang. Mẹ có đủ cả ba.
Mẹ tôi đổ nước vo gạo vào cái chậu cho lợn, rồi ngồi xuống bậc bếp, kéo tôi ngồi cạnh.
– Thuần à. – Mẹ nói. – Lệ thì có. Nhưng lệ là thứ người ta đọc ở công đường. Cha con là quan phủ. Công đường là của cha con. Con nghĩ mẹ mang lệ đến công đường của cha con mà kiện cha con à?
Tôi không trả lời được.
– Lệ thì có, – mẹ nói tiếp, – nhưng phải có người đọc nó to lên, ở chỗ mà cha con không thể giả vờ không nghe thấy. Người đó không phải mẹ. Mẹ đọc thì là vợ ghen, là đàn bà lắm điều. Lắm điều cũng là một trong bảy điều được bỏ đấy, con ạ.
Đêm ấy, mẹ tôi không ngủ. Tôi nằm trong buồng, nghe tiếng mẹ đi lại ngoài sân sau, tiếng nắp chum mở ra đóng vào, tiếng muôi gỗ khua vào thành sành. Gần sáng, tôi dậy, thấy mẹ ngồi bên chum, trước mặt một cái bát con, trong bát một ít tương sánh màu hổ phách. Mẹ chấm ngón tay vào, nếm, rồi nhíu mày, rồi lại nếm.
– Mẹ làm gì thế?
– Mẹ nếm xem có giống không.
– Giống cái gì hả mẹ?
Mẹ không đáp. Mẹ chỉ bảo tôi đi lấy cho mẹ ít đậu nành rang, loại rang thật kỹ, cháy cạnh.
Hôm sau mẹ tôi rang lại một mẻ đậu. Bà rang trong cái chảo gang to, đảo bằng đôi đũa cả, đậu nổ lép bép như pháo tép, khói thơm bốc lên đến tận nhà trên. Tôi ngồi canh lửa.
– Ngày mẹ mới về nhà cha, – mẹ nói, không nhìn tôi, – năm đầu lụt to. Nước lên ngập sân, ngập bếp, lên đến nửa cái chum này. Chum tương là cả vốn liếng nhà mình. Cha con lội nước, cõng cái chum lên đê, cõng một mình, nước đến ngực. Đến chỗ dốc thì trượt chân, chum va vào hòn đá, sứt mất miếng miệng. Cha con ngồi giữa đê ôm cái chum mà khóc, khóc như trẻ con. Bảo là làm mẹ mất vốn.
Tôi chưa bao giờ nghe chuyện ấy. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng được cha khóc.
– Tương trong chum không mất giọt nào. – Mẹ nói. – Mùa ấy mẹ bán được giá nhất, vì cả vùng lụt, nhà ai cũng mất tương. Cha con bảo cái chum sứt là chum có phúc, cấm mẹ thay.
Mẹ trút đậu ra nia, xòe tay quạt cho nguội.
– Người ta không xấu đi trong một ngày đâu con. – Mẹ nói. – Người ta xấu đi từng ít một, mỗi năm một ít, mà không ai nhắc. Mẹ không định nhắc cha con chuyện ngày xưa. Mẹ chỉ định để người khác nhắc.
Sáng ngày quan Bố chánh đến, dì Hai Thảo xuống bếp giúp mẹ. Dì Hai ba mươi tư tuổi, người làng chài, ít nói, cả phủ ít ai để ý đến dì. Dì về đây mười năm, năm đầu mẹ tôi dạy dì cách ngả tương, cách phơi chum, cách đậy vung vải màn cho ruồi không vào. Dì vừa thái gừng vừa hỏi nhỏ:
– Chị cả, chị có muốn em làm gì không?
– Không cần đâu dì. – Mẹ tôi nói. – Dì cứ thái gừng.
Dì Hai gật đầu. Thái thêm mấy nhát, dì lại nói, không ngẩng lên:
– Hôm qua dì Ba sai người ra bến hỏi lái đò. Hỏi xem thuyền quan Bố chánh từ đâu về, quê quán ở đâu. Lái đò bảo quan Bố chánh người làng Bần Thượng. Dì Ba nghe xong thì đứng im, rồi bảo người ấy đừng nói với ai.
Mẹ tôi đặt con dao xuống.
– Làng Bần Thượng cách làng Bần Hạ một con đê. – Mẹ nói. – Dì Ba thông minh thật.
— Hết chương 2 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu