Chương 2: Ông Hà
Đêm ấy thầy dẫn con ra khúc quanh.
Thầy chèo cái xuồng con mượn của ông bán bánh tráng đầu bến. Trăng mười sáu sáng vằng vặc. Khúc quanh sông Chợ Củi nằm ngay dưới một dãy nhà sát bờ, nhà nào cũng có cái sàn gỗ chìa ra sông, cột chống cắm xuống bùn. Ngôi nhà cuối cùng, sát mép nước nhất, là một căn nhà gỗ cũ, mái ngói âm dương, hiên có treo một cái lồng chim trống.
– Nhà ai vậy thầy?
– Chút nữa biết.
Thầy thả neo ngay giữa khúc quanh. Thầy cầm cái gáo dừa, nhưng không múc nước. Thầy úp miệng gáo xuống mặt sông, rồi áp tai vào đít gáo, như người ta áp tai vào vách nghe nhà bên.
Con ngồi im, không dám thở mạnh.
Một hồi lâu, thầy ngẩng lên.
– Ông Hà, – thầy nói, giọng nhỏ nhưng rõ, nói xuống mặt nước. – Tôi là người tu đi dạo, họ Doãn. Tôi xin gặp Ông một chút.
Mặt sông dưới xuồng gợn lên một vòng tròn. Rồi một vòng nữa. Rồi nước tách ra, và từ dưới lòng sông nhô lên một cái đầu.
Con suýt hét lên. Thầy giữ chặt vai con.
Cái đầu ấy là đầu một ông già. Tóc bạc trắng, râu dài tới ngực, ướt sũng, quấn đầy rong. Mặt nhăn nheo như vỏ cây bần. Đôi mắt màu xanh lục như nước sông lúc trời âm u. Ông ngồi dưới nước, chỉ nhô cái đầu và hai vai lên khỏi mặt sông, như người ta ngồi ngâm mình trong chum.
– Người tu, – ông già nói, giọng ục ục như tiếng nước chảy qua ống tre. – Mụ chủ ghe thuê ngươi tới trừ ta đó hả?
– Dạ. Thuê mười lượng bạc. – Thầy nói thật, không vòng vo. – Nhưng tôi chưa nhận bạc. Tôi muốn hỏi Ông trước: Ông lật ghe của người ta làm chi?
Ông Hà khịt mũi, phun ra một tia nước.
– Ta không lật ghe. Ta lấy lại cát.
– Cát của sông, sông lấy lại. Phải vậy không Ông?
– Luật sông có từ trước khi có làng, – Ông Hà nói. – Sông cho thì người lấy. Bãi bồi bờ bên kia, mùa nước lũ ta đem cát về đắp, mùa khô người ta múc, ta không nói một lời. Còn khúc quanh này, – ông giơ một bàn tay nhăn nheo, đầy vảy như da cá, chỉ xuống lòng sông, – cát ở đây là cát ta giữ. Ta giữ nó dưới chân bờ, như người ta xếp bao cát dưới chân tường. Mụ chủ ghe múc cát ở đây ba năm rồi. Ba năm, chân bờ khúc quanh này mỗi năm mất một sải tay. Ta lấy lại được bao nhiêu thì ta lấy.
Thầy Doãn Tịnh nhìn về phía dãy nhà sát bờ. Con nhìn theo. Dưới ánh trăng, con thấy những cái cột chống sàn nhà, cột nào cũng cắm xuống bùn, nhưng bùn quanh chân cột đã lở ra, lộ phần cột trắng hếu chưa từng thấy nắng. Căn nhà gỗ cuối cùng, căn có cái lồng chim trống, nghiêng hẳn về phía sông.
– Ba năm nay ta đắp không kịp, – Ông Hà nói. – Mụ múc nhanh hơn ta đắp. Mùa lũ năm nay nước về, khúc quanh này sụp. Cả dãy nhà đó xuống sông.
– Bà Sáu có biết không?
– Mụ biết nhà đó là nhà ai, – Ông Hà nói, giọng nặng xuống. – Ngươi hỏi mụ đi.
Rồi ông chìm xuống, không một gợn sóng.
Thầy trò con ngồi trên xuồng thêm một lúc lâu. Trăng lên cao, mặt sông sáng như tráng bạc.
– Thầy, – con hỏi. – Vậy Ông Hà là yêu hay là thần?
Thầy nghĩ một hồi.
– Yêu thì lấy cho mình, – thầy nói. – Thần thì lấy cho cái chỗ mình giữ. Ông Hà lật ghe, nhưng có lấy cái ghe đâu. Ông chỉ lấy cát về đắp chân bờ.
– Vậy mình không trừ?
– Mình trừ cái gì? – Thầy cầm mái chèo lên. – Trừ Ông Hà rồi thì ai đắp chân bờ?
Thầy chèo xuồng về bến, chậm rãi. Lúc ngang qua căn nhà gỗ cuối khúc quanh, thầy dừng mái chèo, nhìn lên cái hiên có treo lồng chim trống.
– Hồi thầy bằng tuổi con, – thầy nói, giọng nhỏ như nói với chính mình, – làng thầy ở bên một con sông ngoài Bắc. Người ta múc cát ở khúc quanh đầu làng. Một đêm mưa, cả xóm thầy xuống sông. Hồi đó không có ai đi hỏi sông.
Con không biết nói gì. Ba năm theo thầy, đó là lần đầu thầy kể chuyện nhà.
— Hết chương 2 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe