Chương 3: Món thứ ba: Cơm cháy
Trời vừa rạng, Thượng thiện Phùng ra sân sau. Ông cầm cái thìa sứ của mình, cái thìa ba đời vua đã quen, múc một thìa canh trong nồi đất, thổi nguội, đưa lên miệng.
Mẫn Cúc đứng chờ, hai tay nắm chặt vạt tạp dề.
Ông ngậm thìa canh, chép miệng mấy lần. Rồi ông nhăn mặt, như người ăn phải ớt.
– Chua quá. – Ông nói. – Cay quá. Mặn hơn một chút. Cái hạt này tê lưỡi. Ở Ngự thiện phòng này, ta mà dâng bát canh như thế lên vua thì đã bị đuổi về quê từ bốn mươi năm trước.
Ông đặt thìa xuống, nhìn nồi canh, rồi nhìn nàng.
– Nhưng ta chưa ăn bát canh nào có mùi khói như thế này từ hồi còn ở với bà nội ta. – Ông nói tiếp, giọng chùng xuống. – Bà nội ta cũng nấu bếp củi. Đừng nêm lại gì cả. Cứ thế mà mang đi.
Sáng ngày thứ hai, Mẫn Cúc bưng khay canh vào sứ quán. Thượng thiện Phùng đi theo sau, và hai quan Lễ bộ đi theo sau ông, mặt mày lo lắng.
Ô Lặc Thuần ngồi bên cửa sổ, cái bát đất nung mẻ miệng đặt trên bàn trước mặt. Ông không nhìn khay canh. Ông nhìn ra ngoài sân.
Mẫn Cúc đặt bát canh xuống trước mặt ông, đặt đĩa cơm cháy bên cạnh. Rồi nàng lùi lại, đứng chờ.
Mùi canh bay lên. Ô Lặc Thuần quay đầu lại.
Ông nhìn bát canh rất lâu. Rồi ông cầm thìa, múc một thìa, đưa lên miệng. Ông không nuốt ngay, mà ngậm lấy, nhắm mắt lại. Tay ông cầm thìa run run.
Rồi ông bẻ một miếng cơm cháy, thả vào bát canh, chờ cho nó mềm ra một nửa, rồi mới ăn. Cách ăn của người bản Nà Sa. Mẹ Mẫn Cúc cũng ăn như thế.
Cả gian phòng im lặng. Hai ông quan Lễ bộ nín thở. Ô Lặc Thuần ăn hết bát canh, ăn hết đĩa cơm cháy, không nói một lời. Rồi ông đặt thìa xuống, ngẩng lên nhìn Mẫn Cúc.
– Ngươi là người ở đâu? – Ông hỏi, lần này bằng tiếng Đại Thịnh rất rõ.
– Con là người bản Nà Sa, phía Nam dãy núi. – Mẫn Cúc đáp.
Ô Lặc Thuần gật đầu chậm rãi. Ông đưa tay cầm cái bát đất nung mẻ miệng của mình lên, xoay xoay trong tay.
– Vợ ta là người bản Nà Mo, cách bản ngươi hai con suối. – Ông nói. – Ba mươi năm trước ta đi buôn ngựa qua núi, bị ngã gãy chân, bà ấy nuôi ta hai tháng bằng canh cá suối nấu măng chua. Năm đầu đánh nhau, quân hai bên đốt bản Nà Mo. Bà ấy về thăm mẹ, và không ra được nữa.
Ông đặt cái bát xuống.
– Mười ngày nay, ta muốn xem triều đình Đại Thịnh có biết dân của mình ở biên giới ăn gì không. – Ông nói tiếp. – Các người dâng ta vây cá, bào ngư, chim câu. Rồi các người lục sách của Bắc Khương. Không ai nghĩ tới những người đã chết trên núi Nà Sa, cả bên này lẫn bên kia. Ta không ký hòa ước với một triều đình như thế. Ký rồi, các người lại quên họ.
Không ai trong phòng nói gì. Thượng thiện Phùng cúi đầu thật thấp.
– Bây giờ thì có người nhớ. – Ô Lặc Thuần nói, nhìn Mẫn Cúc. – Một đứa con gái làm bánh trong bếp vua.
Chiều hôm ấy, hòa ước được ký ở điện Lân Đức. Ô Lặc Thuần đòi thêm một điều khoản mà các quan Lễ bộ không lường trước: hai nước mở lại chợ phiên ở chân núi Nà Sa, mỗi tháng hai lần, dân hai bên được qua lại buôn bán không phải đóng thuế. Ông nói, dân ăn được cơm của nhau thì không đốt nhà của nhau.
Hoàng thượng chuẩn.
Ba hôm sau, sứ đoàn Bắc Khương lên đường về nước. Trước khi đi, Tiểu Mã chạy vào Ngự thiện phòng, dúi vào tay Mẫn Cúc một cái ống tre nhỏ. Bên trong là hạt dổi rang muối, thơm cay cay, tê tê đầu lưỡi.
– Ông nhà cháu bảo trả cô. – Thằng bé nói. – Ông bảo hạt này của bên cô, ông giữ lâu rồi.
Từ năm ấy, trong thực đơn ngự thiện của triều Đại Thịnh có thêm một món, ghi bằng nét chữ của Thượng thiện Phùng: canh cá suối nấu măng chua, nấu bằng nồi đất, bếp củi, dâng kèm cơm cháy. Món ấy không dọn ở tiệc lớn. Mỗi năm chỉ dọn một lần, vào ngày rằm tháng Bảy, khi Hoàng thượng làm lễ tế những người chết trận trên núi Nà Sa.
Người nấu là Mẫn Cúc. Nàng vẫn làm bánh, vẫn nặn bánh trôi, nhưng giờ có thêm một góc sân sau với một cái bếp củi riêng. Thượng thiện Phùng không bao giờ còn nói người miền núi nêm nặng tay nữa.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu