Chương 3: Rằm tháng Bảy
Cô không đẩy cửa vào. Cô đứng nghe hết.
Bên này bức tường, ôn Tạo hỏi mạ nấu gì ăn, rồi dặn mạ đóng cửa sổ vì gió sông đêm ni lạnh. Ôn nói chậm, cuối câu kéo dài như người đẩy sào. Mỗi lần mạ trả lời, giọng mạ vọng qua bức tường mỏng, nhỏ nhưng đủ nghe, và ôn nhắm mắt lại nghe, cái đầu bạc tựa sát vào vôi như tựa vào vai ai.
Rồi mạ nói gì đó Thoang nghe không rõ. Ôn im một lúc. Rồi ôn nói vào micro:
– Bà nói với con là đừng có lo. Tui không đi mô hết.
Ôn ho hai tiếng, hát một câu hò đưa đò, giọng vỡ ở chữ cuối. Ôn tắt công tắc. Cái đèn xanh bên kia tường chắc cũng vừa tắt. Ôn ngồi yên với cái micro trên đùi rất lâu, rồi đứng dậy, rót trà, cầm tờ lịch xé lên ghi gì đó bằng bút chì.
Thoang gõ cửa liếp.
Ôn Tạo quay lại. Mắt ôn không ngạc nhiên. Như thể ôn đã chờ tiếng gõ đó bốn năm.
– Thoang đó hả. Vô đi con.
Bếp nhà ôn nhỏ, có một cái bàn gỗ, hai cái ghế, một cái bếp củi y như bếp nhà mạ. Trên tường treo một cây đàn nguyệt đã đứt hai dây. Ôn rót trà cho cô, tay run làm nước sóng ra mặt bàn.
– Con mở cái radio rồi phải không? – Ôn hỏi.
– Dạ.
– Ôn nghĩ rứa. Chiều ni con vô hẻm hai lần.
Thoang nhìn cái micro.
– Bốn năm hả ôn?
– Ba năm chín tháng. – Ôn nói. – Tính tới bữa ni.
Ôn kể. Đêm mười hai tháng Mười một năm năm mươi bảy, bảy giờ tối, mạ ngồi trước radio chờ, mà đèn xanh không sáng. Bảy giờ mười lăm. Bảy giờ rưỡi. Mạ gọi qua tường: "Ôn Tạo ơi, cái radio nhà tui hư rồi." Ôn qua coi, không biết sửa. Sáng hôm sau có tin hãng phá sản, mọi bản giọng tắt hết. Mạ không khóc. Mạ chỉ không ăn. Ba ngày mạ không ăn gì ngoài nước cơm.
– Ôn hát với ba con bốn chục năm. – Ôn nói. – Giọng ổng ôn thuộc như giọng ôn. Hồi trẻ đi hát đò, khách Tây khách ta còn không biết hai đứa đứa mô hát câu mô. Tối thứ tư, ôn kêu thằng cháu ở Cồn Vạn về khoan cái lỗ, đi sợi dây, tháo ruột cái radio ra. Ôn dặn nó đừng nói ai.
– Ôn có tính... – Thoang ngừng lại. Câu hỏi nghề nghiệp nằm trên đầu lưỡi cô: ôn có tính làm gì với căn nhà không, ôn có bảo mạ ký gì không. Cô không hỏi nổi.
Ôn hiểu.
– Ôn không tính chi hết. Ôn chỉ tính cho bà ăn cơm.
Cô nhìn tờ lịch xé trên bàn. Ôn đưa cho cô coi. Mặt sau mỗi tờ, chữ bút chì nhỏ li ti, run run. Không phải sổ sách gì. Chỉ là vài chữ. "Canh bí. Cá trích. Bậc ba." "Đau lưng. Bậc hai." "Con Thoang gọi, nói Tết không về." Cả một chồng lịch xé buộc dây thun, dày bằng viên gạch.
– Ôn già rồi, sợ quên. – Ôn nói. – Bà dặn chuyện chi thì tối mai ôn còn nhớ mà hỏi lại. Ông Lãm còn sống thì ổng nhớ hết, bà kể một câu ổng hỏi lại cả tuần.
Thoang cầm tờ lịch của hôm qua. "Con Thoang về. Ốm."
Bữa qua bà nói nó về.
Cô nghĩ tới căn phòng cách âm ở Cảng Thành. Luật quên mỗi đêm. Bao nhiêu năm cô chấm điểm đỏ cho những bản giọng dám nhớ một câu của người sống, vì cô tin nhớ là nguy hiểm, nhớ là bẫy. Một cái máy nhớ thì có thể lợi dụng. Còn ở đây, một ông già tám mươi tuổi phải ghi lên lịch xé từng bậc nước, từng nồi canh, để tối sau còn hỏi lại, vì người chồng thật thì nhớ.
– Mạ con có biết không ôn?
Ôn Tạo nhìn ra cửa sổ, nơi sông Ngân tối đen, chỉ có đèn chùa.
– Ôn không biết. Ôn không dám hỏi. Ôn sợ hỏi thì bà thôi nghe.
Hai ông cháu ngồi im. Ngoài sông có tiếng mái chèo khua, ai đó chèo đò đi thả lưới đêm.
– Bảy ngày nữa là rằm. – Thoang nói. – Đúng ra ngày đó con phải tắt bản giọng của ba.
– Ôn biết. Bà nói rồi.
– Ôn tính răng?
– Tới rằm ôn ngừng. – Ôn nói, như đã quyết từ lâu. – Ông Lãm cũng phải đi. Ôn hát thế ổng bốn năm, không lẽ hát thế cả đời.
Mấy ngày sau đó, Thoang không nói gì với mạ. Cô đi chợ, nấu cơm, đạp xe lên chùa, ra thăm mộ ba ở đồi Thông Vàng. Tối nào bảy giờ cô cũng ngồi trong phòng khách, nhìn mạ nói chuyện với cái hộp gỗ, nghe tiếng ho hai cái, nghe câu hò đưa đò vỡ ở chữ cuối. Có tối mạ kể con Thoang hôm ni nấu canh chua bị mặn. Tối sau, giọng ba trong radio hỏi: "Canh bữa ni con nêm vừa chưa?" Mạ cười. Thoang quay mặt đi.
Đêm rằm tháng Bảy, cả xóm Bến Liễu thả hoa đăng xuống sông. Thoang mua hai chiếc, một cho ba, một cho mạ thả. Bảy giờ kém năm, hai mẹ con về ngồi trong phòng khách. Nhang trên bàn thờ cháy đỏ ba đầu.
Bảy giờ. Đèn xanh trên hộp gỗ sáng.
Có tiếng ho. Hai tiếng. Khô, ngắn.
Mạ không đợi câu hỏi. Mạ nghiêng người về phía radio, nói rõ từng chữ:
– Nước lên tới bậc thứ tư rồi, ôn Tạo à.
Bên kia tường im phăng phắc. Thoang nín thở. Cô nghe được tiếng nước sông vỗ vào bậc đá, nghe được tiếng con muỗi vo ve trên đầu.
– Ông Lãm nhà tui không ho. – Mạ nói tiếp, giọng bình thường như kể chuyện chợ. – Ổng không biết hút thuốc. Tối đầu tiên tui nghe hai tiếng ho là tui biết. Tui không nói vì tui sợ ôn thôi.
Một lúc lâu. Rồi loa trong hộp gỗ rè lên, phát ra một giọng khác. Giọng ôn Tạo thật, không kéo dài cuối câu, không đẩy sào, chỉ là giọng một ông già khản tiếng.
– Rứa răng bà còn nghe?
– Thì ôn hỏi nước lên bậc mấy. – Mạ nói. – Từ hồi ổng đi, có ai hỏi tui câu đó nữa mô.
Thoang đứng dậy đi ra hiên, để lại hai người già với bức tường. Ngoài bến Liễu, hoa đăng trôi đầy sông, đèn vàng lấp loáng trôi về phía cầu Bạch Lộ. Nước đã lên tới bậc thứ tư thật. Cô ngồi xuống bậc thứ năm, nhúng chân xuống nước, nghe sau lưng tiếng mạ nói qua tường, tiếng ôn trả lời, không ai giả giọng ai nữa.
Lát sau, cô nghe ôn Tạo hắng giọng, không ho, rồi hát một câu hò đưa đò. Hát trọn tới chữ cuối, không vỡ.
Rồi có tiếng cửa bếp nhà bên mở, tiếng dép lẹp xẹp ngoài hẻm. Mạ đứng dậy đi ra cửa trước, tay cầm theo bình trà.
— Hết —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe