Chương 3: Bài ru mười hai nghìn năm
Giọng hát khàn, trầm, như giọng một người đàn bà đã già. Không có lời. Chỉ có những tiếng ngân dài, lên một bậc, xuống hai bậc, kéo dài ở cuối câu như tiếng gió lùa qua miệng hang. Và nhịp của nó không đều. Nó đi bảy nhịp, ngân một nhịp, rồi lại bảy nhịp.
Lượm không nghe tiếng mũi khoan nữa. Anh không nghe tiếng giọt nước nữa. Anh chỉ nghe giọng hát ấy.
Đó là bài ru của bản anh.
Không giống hệt. Có chỗ ngân dài hơn, có chỗ lên cao hơn. Nhưng bảy nhịp và một nhịp ngân, lên một bậc và xuống hai bậc, cái đuôi câu kéo dài như gió lùa qua hang, không thể lẫn vào đâu được. Anh đã nghe nó từ bà nội, từ mẹ, đã hát nó cho con anh, đã hát nó hai tiếng trước cho một người đàn bà đang sợ hãi trong khe đá.
Bà nội anh bảo bài ru ấy có từ hồi người bản còn ở trong hang. Anh đã không tin.
Khang cũng đứng sững. Mũi khoan trong tay anh ta vẫn rít, nhưng anh ta không bước tiếp. Anh ta quay lại nhìn Lượm, vì Lượm đang làm một việc mà không ai ngờ: anh hát theo.
À ơi. Bảy nhịp. Ngân. À ơi. Bảy nhịp. Ngân.
Giọng anh và giọng người đàn bà mười hai nghìn năm trước hòa vào nhau trong gian hang. Có chỗ lệch nhau, có chỗ trùng nhau. Hân ngồi bệt xuống sàn hang ướt. Tú ôm mặt. Quyết quên cả bấm máy.
Khang tắt máy khoan.
Tiếng hát trong loa dứt. Lượm cũng dứt. Gian hang im lặng, chỉ còn tiếng giọt nước. Và tiếng ùng ục từ phía khe đá, giờ đã gần hơn, to hơn.
– Tôi biết bài này – Lượm nói, giọng anh khàn đặc. – Bà nội tôi dạy tôi. Cả bản tôi đều biết. Người ta hát nó để ru con. Bà tôi bảo nó có từ hồi người còn ở trong hang. Tôi tưởng bà nói chơi.
Không ai nói gì. Khang đứng nhìn cái máy khoan trong tay mình, như nhìn một thứ gì đó rất lạ.
– Tách – Lượm nói, giơ một ngón tay lên trần hang. – Tách. Hai nhịp rưỡi. Mình còn chừng hai mươi phút trước khi khe đá ngập tới miệng. Nếu khoan, mất mười phút, khiêng nó qua khe đá bốn tấc thì không qua được. Mình sẽ phải bỏ nó giữa khe, hoặc chết cùng nó trong khe.
Hân đứng dậy. Mặt chị lấm bùn, mắt đỏ hoe, nhưng giọng chị không run.
– Mình đi – chị nói. – Để nó lại.
Khang nhìn chị. Rồi nhìn quả cầu. Rồi nhìn Lượm. Anh ta bỏ cái máy khoan xuống sàn hang, không cất vào ba lô.
– Nặng – anh ta nói, không giải thích thêm.
Trước khi đi, Lượm làm một việc cuối cùng. Anh quỳ xuống trước quả cầu, áp trán lên khoảng hở trên lớp thạch nhũ. Vỏ quả cầu ấm như trán một đứa trẻ đang ngủ. Anh hát một câu ru, khe khẽ. Bảy nhịp. Ngân. Rồi anh đứng dậy, tắt đèn trên mũ, ra hiệu cho mọi người cùng tắt đèn, chỉ bật đèn đỏ nhỏ ở cổ tay để đi. Không có ánh đèn sưởi, quả cầu sẽ nguội dần. Nó sẽ ngủ lại.
Năm người lội ra khỏi gian hang trong ánh đèn đỏ lờ mờ. Lượm đi cuối cùng, đếm giọt.
Khe đá đã ngập gần hết. Nước chỉ còn cách trần khe chừng một gang tay, lạnh buốt, đục ngầu bùn, chảy xiết ngược chiều họ. Lượm buộc dây vào thắt lưng từng người, nối thành một chuỗi. Anh đi trước. Anh bảo mọi người áp mặt lên trần khe, chỗ còn một gang tay không khí, thở bằng mũi, bò theo dây, đừng dừng lại.
Mười hai mét. Bình thường là ba phút bò. Hôm ấy, mất tám phút. Tám phút dài nhất đời Lượm. Có lúc nước dâng lên ngập tới môi, anh phải ngửa cổ, áp mũi vào đá mà hít. Có lúc anh nghe sau lưng tiếng Tú sặc nước, tiếng Hân gọi tên Tú, tiếng dây giật mạnh. Anh không quay lại được. Anh chỉ kéo dây, kéo mãi, và trong đầu anh hát. Bảy nhịp. Ngân. Bảy nhịp. Ngân. Như bà nội anh hát cho anh hồi anh sốt, như người đàn bà mười hai nghìn năm trước hát cho một đứa trẻ nào đó trong hang.
Anh chui ra khỏi khe đá, ngã vật xuống sàn hành lang đã ngập tới đầu gối. Rồi anh quay lại kéo từng người ra. Hân. Quyết. Tú, mặt tím tái, ho sặc sụa nhưng còn thở. Khang ra cuối cùng.
Năm người lội ngược dòng nước suốt hai tiếng nữa mới ra tới cửa hang. Trời bên ngoài đang mưa như trút, núi đá vôi Trường Lam mờ mịt trong màn nước trắng xóa. Máy báo lũ ở cửa hang nháy đèn đỏ. Đội cứu hộ của xã đã dựng lều ở đó từ một tiếng trước, chuẩn bị đi vào tìm họ.
Hân ngồi dưới mái lều bạt, quấn chăn, tay ôm cốc nước gừng nóng mà không uống. Lượm ngồi xuống bên cạnh chị. Hai người nhìn ra màn mưa một lúc lâu.
– Anh Lượm – chị nói. – Lúc nãy, nếu anh không hát theo, tôi không biết tôi có để anh Khang khoan không.
– Chị sẽ không để – Lượm nói.
– Sao anh biết?
– Vì ở khe đá, lúc chị sợ, chị nghe tôi hát xong là chị bò tiếp – anh nói. – Người nghe được bài ru thì không nỡ đục cái chỗ người ta ru nhau.
Hai tuần sau, khi nước đã rút, một đoàn khác vào lại hang Mỏ Quạ. Họ không vào được gian hang có hồ nước xanh. Trận lũ đã đẩy một khối bùn đá khổng lồ lấp kín khe đá bốn tấc. Muốn vào phải đào, mà đào ở đó có thể làm sập cả nhánh hang. Hội đồng khoa học của nước Trường Lam họp ba lần, rồi quyết định tạm thời để yên. Họ chỉ còn những gì Quyết ghi được trong máy thu âm, và những thước phim của Khang.
Khang không làm phim. Anh ta gửi toàn bộ dữ liệu cho Hân, rồi xin nghỉ việc ở quỹ tài trợ. Lượm nghe người ta kể anh ta về quê, mở một cái lớp dạy bơi cho trẻ con.
Bản ghi âm thì Hân cho Lượm nghe lại một lần, ở nhà anh, trong một buổi tối mưa rả rích. Cả nhà anh ngồi quanh cái loa nhỏ: vợ anh, hai đứa con, và bà mẹ già ngoài tám mươi. Tiếng gió, tiếng nước, tiếng chim lạ, tiếng lửa, tiếng người. Rồi tiếng người đàn bà hát.
Bà mẹ già của Lượm nghe được nửa câu đầu thì cất tiếng hát theo. Bà không biết mình đang hát với ai. Bà chỉ biết đó là bài ru.
Nhưng có một đoạn Hân để dành tới cuối buổi mới mở, khi bà cụ đã đi nằm, hai đứa trẻ đã ngủ gục trên chiếu. Đó là đoạn cuối bản ghi, sau khi Lượm tắt đèn, sau khi cả đoàn đã rời gian hang. Máy thu âm mà Quyết để quên trên sàn hang vẫn chạy thêm mười bảy phút, trước khi nước tràn vào cuốn nó ra tới miệng khe đá. Đoàn vào lại hang hai tuần sau đã nhặt được nó ở đó.
Trong mười bảy phút ấy, quả cầu hát lại một lần nữa.
Lần này có hai giọng. Một giọng đàn bà khàn trầm từ mười hai nghìn năm trước. Và một giọng đàn ông, khe khẽ, run run, lệch nhịp ở chỗ ngân, cái giọng mà Lượm nghe ra ngay từ tiếng đầu tiên.
Giọng của anh.
— Hết —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe