Chương 2: Lu nước muối dưới gầm giường
Ông không biết nó là cái giống gì, từ đâu tới. Ông chỉ biết một điều: thứ gì sống được phải có nước. Mà nó nằm trong ruộng muối, nước càng mặn nó càng tươi, chỗ nào khô là chỗ đó chết. Vậy nó cần nước mặn, mà không được khô, không được nắng.
Ông chạy về nhà lấy cái thau nhôm, múc nước chạt ở hố chứa, cái nước muối đặc sệt người ta để dành phơi muối đó, đem ra ruộng. Ông lấy hai tay bợ nó lên. Nó nặng hơn ông tưởng, cỡ ba bốn ký, mềm oặt như bao nước. Ông thả nó vô thau nước chạt. Nó chìm xuống, nằm im. Mấy chỗ da khô đục từ từ trong trở lại. Những đường sáng xanh chạy chậm dần, đều dần.
Ông lấy cái nón lá úp lên thau, ôm về nhà, đem để dưới gầm giường trong buồng, chỗ tối nhất. Rồi ông ngồi xuống đất, thở hổn hển, tim đập như trống chầu.
Bây hỏi sao ông không báo ai? Ông có nghĩ chứ. Ông nghĩ hoài. Mà ông sợ. Ông coi trên đài mấy chục năm nay, hễ có cái gì lạ từ trên trời rơi xuống là người ta kéo tới đông nghẹt, quay phim chụp hình, rồi đem đi mất. Ông nghĩ tới cái con nhỏ trong thau, run rẩy sáng xanh như ngọn đèn sắp tắt. Ông nghĩ nó còn yếu quá, chưa chịu nổi người ta.
Ba ngày đầu ông giấu nó. Ông thay nước chạt cho nó mỗi sáng. Ông để ý thấy nó thích nước mặn thiệt mặn, mặn tới mức người ta không ngâm cá nổi. Nước nhạt hơn một chút là nó co lại, nhăn nheo. Ông để ý thấy ban ngày nó nằm im, ban đêm nó sáng lên, bò quanh đáy thau chậm rì như con ốc. Mà mỗi lần ông gõ ba cái lên thành thau, nó gõ lại ba cái, bằng cách áp cả người vào thành thau mà rung lên. Ông gõ hai cái, nó không gõ. Ông gõ bốn cái, nó không gõ. Chỉ có ba cái là nó trả lời.
Đêm thứ ba, ông không ngủ được. Ông trải chiếu nằm dưới đất, ngay cạnh cái thau, nghiêng mặt nhìn nó. Ánh sáng xanh từ dưới nón lá hắt ra, in lên vách buồng những vằn sáng chập chờn như bóng nước. Ông nói chuyện với nó. Bây đừng cười ông. Ông già sống một mình thì nói chuyện với cái ấm trà cũng được, huống chi một thứ biết gõ lại mình.
Ông kể cho nó nghe về bà nội bây. Kể bả quê ở bên kia đầm Ngọc, con nhà làm muối, cưới ông năm hai mươi hai tuổi. Kể bả ăn trầu tới năm sáu chục tuổi mới bỏ, răng đen nhánh. Kể bả nấu canh chua cá dìa ngon nhất xóm, mà nêm muối thì không bao giờ dùng muỗng, chỉ bốc bằng ba ngón tay. Kể cái bữa bả mất, ông ra ruộng mà quên gõ cán cào, đứng trên bờ cả buổi không bước xuống được.
Mỗi lần ông ngừng kể, cái con trong thau lại sáng lên một chút, như hỏi rồi sao nữa. Ông không biết nó có hiểu không. Mà ông kể tới gần sáng, kể hết những chuyện mà ba năm nay ông chưa kể với ai.
Tới ngày thứ tư thì ông Sáu biết. Ông Sáu qua nhà rủ đánh cờ, nghe trong buồng có tiếng cộc cộc, tưởng chuột, vô coi. Ổng đứng nhìn cái thau sáng xanh dưới gầm giường cỡ mười phút, không nói được câu nào. Rồi ổng ngồi bệt xuống đất, ngay cạnh ông, châm điếu thuốc, run tới mức châm ba lần mới cháy.
– Tư ơi – ổng nói – ông có nhớ hồi năm lẻ một, bà Tư kể với ông chuyện gì không?
– Chuyện gì?
– Bả kể với tui, hồi mùa muối tháng năm năm đó, một đêm bả ra ruộng sớm, thấy dưới góc ruộng có cái gì sáng xanh như ma trơi. Bả sợ quá, đứng trên bờ cầm cái cào gõ xuống đất cho đỡ sợ. Gõ ba cái thì cái thứ dưới ruộng gõ lại ba cái. Bả kể với ông, ông cười bả, nói bả già rồi lẩm cẩm. Bả không kể với ông nữa. Bả chỉ kể với tui.
Ông ngồi đó, nghe như có ai lấy cái cào gõ thẳng vô ngực mình.
– Sao ông không nói tui?
– Bả dặn tui đừng nói. Bả nói ông không tin thì thôi, để bả tin một mình. Mà rồi cái thứ đó cũng biến mất, bả không thấy lại nữa. Bả chỉ giữ cái thói gõ cán cào ba cái mỗi sáng. Bả nói lỡ nó quay lại thì nó biết đường.
Cho muối nó biết mình về. Bây nhớ câu đó chưa? Ông nhớ gần năm chục năm mà không hiểu, tới bữa đó mới hiểu.
Cái con trong như thạch dưới gầm giường không phải con hồi xưa. Ông Sáu với ông nghĩ hoài cũng không biết tại sao nó biết ba tiếng gõ. Có thể nó là con cháu của con hồi xưa, có thể đồng loại của nó nhớ ba tiếng gõ của bà nội bây như người ta nhớ một cái tên. Ông không biết. Mà bây giờ ông nghĩ, có khi nó rơi xuống ruộng nhà mình không phải tình cờ. Có khi nó đi tìm.
Hai ông già bàn với nhau cả đêm. Không giấu được lâu nữa. Nó lớn lên từng ngày, cái thau nhôm chật rồi, ông phải đổi qua cái lu sành. Nước chạt ở hố chứa sắp hết. Mà quan trọng nhất là nó yếu dần. Những đường sáng xanh mỗi đêm một mờ. Nó cần cái gì đó mà ông không biết, ông không cho nó được.
Ông Sáu có thằng cháu ngoại học ở trung tâm nghiên cứu biển ngoài thành phố Vịnh Ngọc. Ông Sáu gọi nó về.
Thằng nhỏ tên Lâm, hai mươi bảy tuổi, đeo kính cận dày cui. Nó về tới nơi lúc nửa đêm, cùng một cô gái tên Hạnh, là sếp của nó, chừng ba mươi lăm, tóc cột đuôi gà, đi đôi dép tổ ong. Hai đứa quỳ xuống bên cái lu, soi đèn đỏ vô, đo đạc, ghi chép trên máy tính bảng, nói với nhau toàn những chữ ông không hiểu. Cô Hạnh hỏi ông cả trăm câu. Nó ăn gì, nó ngủ lúc nào, nó có tiếng động gì không. Ông kể hết, chỉ trừ chuyện ba tiếng gõ.
Ông không biết sao ông giấu chuyện đó. Ông chỉ thấy đó là chuyện của nhà mình.
– Bác ơi – cô Hạnh nói, lúc gần sáng – cháu nghĩ nó không sống được lâu ở đây đâu. Thành phần cơ thể của nó gần giống nước muối đậm đặc, mà có một cấu trúc tinh thể bên trong, nó sống nhờ cấu trúc đó. Mỗi ngày cấu trúc đó yếu đi. Có thể nó cần nước sâu, áp suất cao, nhiệt độ thấp. Như dưới đáy biển. Cháu xin phép bác cho cháu đưa nó về trung tâm. Ở đó có bể nước áp suất cao, cháu có thể giữ nó sống.
Ông nhìn cô Hạnh. Cô không có ánh mắt của người muốn đem nó đi bán. Cô có ánh mắt của bà nội bây những lần nhìn đứa cháu đầu lòng sốt cao.
Ông gật đầu.
Mà trời chưa sáng hẳn thì ngoài ngõ đã có tiếng xe. Không phải xe của trung tâm. Là ba chiếc xe bay màu đen bóng, đậu kín cả con đường đất. Một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng bước xuống, tay cầm cái máy tính bảng, sau lưng là sáu bảy người khiêng theo một cái lồng kính to như cái tủ lạnh.
Đó là Ngô Thành Đạt. Lần này hắn không mang theo hộp trà. Không biết ai đã báo cho hắn.
— Hết chương 2 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe